- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phàng T M - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phàng Thị M phạm tội; Tội mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2018/HSST. Ngày: 26 - 9 - 2018. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tuấn Long.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Thông - Ông Mùi Văn Hoạt
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Vũ Hồng Nghiêm - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La; Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số; 83/2018/TLST- ST ngày 31 tháng 7 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số; 93/2018/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 9 năm 2018, đối với bị cáo.
Phàng Thị M; tên gọi khác, không, sinh năm 1984. Trú tại; Bản CM, xã T X, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Giới tính nữ, tôn giáo không, Quốc tịch Việt Nam. Dân tộc: Mông; trình độ văn hoá: Không biết chữ; nghề nghiệp: Trồng trọt; con ông; Phàng A M ( Đã chết ), con bà; Vàng Thị C 76 tuổi; bị cáo có chồng; Hờ A T 32 tuổi, bị cáo có 03 con, con lớn nhất 13 tuổi, con nhỏ 04 tuổi. Tiền án, tiền sự; không có. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 18 tháng 6 năm 2018 cho đến nay bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Người phiên dịch cho bị cáo Phàng Thị M: Anh Sồng A P.
Địa chỉ: Tiểu khu 0, thị trấn MC, huyện M C, tỉnh Sơn La.
* Người chứng kiến: Anh Vì Văn Ch.
Trú tại: Bản CH, xã XN, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La ( Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 9 giờ ngày 18/6/2018, Phàng Thị M hái 15 quả dưa tại nương của gia đình và mang theo 160.000 đồng đến khu vực biên giới Việt, Lào. Mục đích tìm mua và đổi dưa lấy ma túy mang về có ai hỏi mua, thì bán lại kiếm lời. Tại khu vực biên giới M gặp một người phụ nữ dân tộc Mông, không quen biết M đã thỏa thuận mua bán ma túy với người đó, M đưa cho người đó 160.000 đồng và 15 quả dưa. Người phụ nữ đưa cho M 01 gói nilon màu vàng đựng 10 viên hồng phiến và 01 gói nilon màu vàng đựng 22 gói bột màu trắng nghi là Heroine. M cất giấu số ma túy vào chiếc túi vải thổ cẩm đang đeo trên người rồi đi về nhà. Đến 14 giờ cùng ngày khi đi về đến khu vực bản Cột Mốc, xã Tân Xuân, huyện Vân Hồ thì gặp tổ công tác Đồn biên phòng Tân Xuân và Công an huyện Vân Hồ, kiểm tra hành chính. Phát hiện và bắt quả tang Phàng Thị M đang vận chuyển, cất giấu trái phép chất ma túy, thu giữ toàn bộ vật chứng gồm có.
01 chiếc túi vải thổ cẩm bên trong có 01 gói nilon màu vàng đựng 10 viên hồng phiến mỗi viên nén đều ký hiệu WY ( M khai là ma túy tổng hợp) cân tịnh được 0,93 gam rút 0,47 gam gửi giám định chất ma túy, còn lại 0,46 gam ( Đã được niêm phong, 01 gói nilon màu vàng đựng 22 gói bột màu trắng nghi là Heroine ( M khai là Heroine) cân tịnh được 1,79 gam rút 22 mẫu để gửi giám định chất ma túy có khối lượng là 0,73 gam còn lại 1,06 gam ( Đã được niêm phong).
Tại bản kết luận giám đinh số 772/KLMT ngày 22/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La Kết luận: “Mẫu gửi giám đinh ký hiệu “M1, M3, M5, M7, M9, M11, M13, M15, M17, M19, M21, M13, M25, M27, M29, M31, M35, M37, M39, M41, M43” là chất ma túy; loại chất Heroine. Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,73 gam. Mẫu gửi giám đinh ký hiệu “MH1” là chất ma túy; loại chất Methamphetamine. Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,47 gam.Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ được là 1,79 gam loại chất Heroine, và 0,93 gam loại chất Methamphetmine”.
Tại bản Cáo trạng số: 55/CT-VKS ngày 30/7/2018 của Viện kiểm sát nhân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Phàng Thị M về tội; Tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phàng Thị M phạm tôi: Tội mua bán trái phép chất ma túy.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đề nghị xử phạt bị cáo Phàng Thị M mức án phạt tù từ 02 ( Hai ) năm 6 ( Sáu ) tháng tù đến 03 ( Ba ) năm 6 ( Sáu ) tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phàng Thị M được quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tuyên tịch thu để tiêu huỷ: 01 phong bì đã được niêm phong bên trong đựng 1,06 gam Heroine, 0,46 gam Methamphetamie và vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 ( Một ) chiếc túi thổ cẩm có hình hoa văn đã qua sử dụng.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nhà nước.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Phàng Thị M về tội: Tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 và quan điểm luận tội tại phiên tòa đối với bị cáo.
Ý kiến của bị cáo Phàng Thị M nhất trí như Quyết đinh truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt thấp nhất trong khung hình phạt đề nghị của Viện Kiểm sát đối với bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Ngày 18/6/2018, Phàng Thị M trú tại bản C M, xã T X, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Bị phát hiện và bắt quả tang đang vận chuyển, cất giấu 0,93 gam Methamphetmine và 1,79 gam Heroine. Mục đích dùng 160.000 đồng và 15 quả dưa trao đổi, mua lại ma túy vận chuyển, cất giấu để sử dụng và bán lại kiếm lời chưa kịp bán lại ma túy thì bị phát hiện và bắt quả tang. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những lời khai tại cơ quan điều tra, Kết luận giám định chất ma túy, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo cất giấu 02 chất ma túy để bán lại kiếm lời, 0,93 gam Methamphetamine và 1,79 gam Heroine. Tổng khối lượng hai chất ma túy = 2,72 gam dưới mức tối thiểu của điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Trên cơ sở đó có đầy đủ điều kiện đủ căn cứ kết luận bị cáo Phàng Thị M phạm tội: Tội mua bán trái phép chất ma tuý, vi phạm khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 như Quyết định truy tố và Quan điểm luận tội tại phiên toà của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La là có căn cứ đúng pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “ Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
. Xét hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Phàng Thị M với số lượng, giá trị trao đổi, mua bán không lớn mục đích mua lại, vận chuyển cất giấu trái phép chất ma túy để bán lại kiếm lời thu lợi bất chính. Xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội nhất là tội phạm về ma túy. Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo mua, bán 0,93 gam Methaphetamin, 1,79 gam Heroine, tổng khối lượng của hai chất ma túy là 2,72 gam cần vận dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo.
. Xét nhân thân bị cáo Phàng Thị M phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Nhân thân bị cáo là phụ nữ, dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa không biết chữ am hiểu pháp luật còn hạn chế, sống ở vùng đặc biệt khó khăn là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015. Xong bị cáo nhận thức biết rõ tác hại của ma tuý là nhà nước cấm do coi thường pháp luật và hám lợi nên cố tình phạm tội nghiêm trọng. Xét quan điểm luận tội tại phiên toà của Viện kiểm sát nhân dân, ý kiến của bị cáo tại phiên toà là có căn cứ đúng pháp luật. Nay xét thấy cần cách ly bị cáo Phàng Thị M ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ thời gian giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện, có ích cho xã hội. Cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa chung nhất là công tác phòng chống tội phạm nói chung và công tác phòng chống tội phạm về ma túy trong giai đoạn hiện nay.
. Bị cáo Phàng Thị M đang bị tạm giam, nay Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, vận dụng khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Ngoài hình phạt chính là phạt tù bị cáo Phàng Thị M còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người sống chủ yếu vào nông nghiệp, không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên tham gia tố tụng tuân theo và chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nguồn gốc số Methamphetamine và Heroine bị thu giữ, theo lời khai của Phàng Thị M là mua của một người phụ nữ dân tộc Mông, M không biết tên và địa chỉ cụ thể, cơ quan cảnh sát điều tra đã điều tra, xác minh ngoài lời khai của M ra không có chứng cứ nào khác cơ quan điều tra không có cơ sở xử lý người bán ma túy cho M.
. Về vật chứng của vụ án: Số ma túy của bị cáo Phàng Thị M là hàng quốc cấm nhà nước cấm lưu hành, vỏ gói niêm phong ban đầu không có giá trị sử dụng cần được tuyên tịch thu tiêu huỷ. Đối với chiếc túi thổ cẩm hoa văn đã qua sử dụng cũ M dùng cất giấu trái phép chất ma túy là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội cân tuyên tịch thu tiêu hủy. Vận dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về án phí: Bị cáo Phàng Thị M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung của Nhà nước vận dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phàng Thị M có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố bị cáo Phàng Thị M phạm tội; Tội mua bán trái phép chất ma túy.
3. Xử phạt bị cáo Phàng Thị M 03 ( Ba ) năm 6 ( Sáu ) tháng tù. “ Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 18/6/2018”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phàng Thị M được quy đinh tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
4 . Về vật chứng vụ án: Tuyên tịch thu để tiêu hủy, 01 phong bì bên trong đựng 1,06 gam Heroine, 0,46 gam Methamphetamie và vỏ gói niêm phong ban đầu ( Đã được niêm phong ), 01 ( Một ) chiếc túi thổ cẩm hoa văn đã qua sử dụng cũ.
5. Về án phí: Bị cáo Phàng Thị Măng phải nộp 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng chẵn ) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo Phàng Thị M biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Toà án ND tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện;
- Công an;
- Trại giam;
- THA hình sự;
- THA dân sự;
- Bị cáo;
- Sở Tư pháp;
- Lưu án văn;
- Lưu hồ sơ.
Đỗ Tuấn Long
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an; - Trại giam; - THA hình sự; - THA dân sự; - Bị cáo; - Sở Tư pháp; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Tuấn Long |