- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đắc Đ - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Sùng Y D; Phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2023/HS-ST ngày 15 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình về phần xử lý vật chứng vụ án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂNCẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 912/2023/HS-PT Ngày 11/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyển;
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Mạnh Tiến;
Ông Trần Quang Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Trang – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thành - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 11 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 496/2023/TLPT-HS ngày 08 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Đắc Đ, do có kháng cáo của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2023/HS-ST ngày 15 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Đắc Đ, sinh ngày 01 tháng 02 năm 1981 tại Hà Nội; nơi cư trú: Tổ D, N, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đắc H (đã chết) và bà Phan Thị T, sinh năm 1953; có vợ là Nguyễn Mai T1, sinh năm 1997; bị cáo có 02 con với chị Ngô Thị H1, sinh năm 1981 (đã ly hôn) và 01 con với chị Nguyễn Mai T1; con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:
- Ngày 02/02/2001 bị Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản.
- Ngày 08/03/2002 bị Công an quận T, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính với hình thức Cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản.
- Ngày 17/11/2004 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây cũ (nay là thành phố Hà Nội) xử phạt 09 tháng tù giam về tội Môi giới mại dâm.
- Ngày 16/3/2006 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây cũ (nay là thành phố Hà Nội) xử phạt 05 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 02 năm tù về tội Trốn khỏi nơi giam. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội là 07 năm tù.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
- Bị cáo có kháng cáo và nhưng đã rút kháng cáo được Tòa án triệu tập:
Giàng A Lềnh, sinh ngày 05/05/1988 tại Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Giàng A C, sinh năm 1971 và bà Vàng Y S, sinh năm 1972; Có vợ là Sùng Y D, sinh năm 1980 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đắc Đ:
+ Luật sư Đỗ Thị H2 - Văn phòng L2, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.
+ Luật sư Phạm Thế H3 – Văn Phòng L3, thuộc Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có kháng cáo: Chị Sùng Y D, trú tại: Xóm P, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Hà Công G và 03 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Hành vi mua bán trái phép 02 bánh Heroine của Giàng A L, Nguyễn Đắc Đ, Hà Công Q và Hà Công G vào ngày 04/6/2021:
Khoảng năm 2020, Nguyễn Đắc Đ lên nhà Giàng A L để trao đổi về việc mua bán ma túy, sau đó Đ và L thường xuyên liên lạc điện thoại với nhau, Đ muốn L mang ma túy xuống Hà Nội giao cho Đ, nhưng do sợ mang ma túy xuống Hà Nội nguy hiểm, dễ bị bắt nên L không đồng ý, Đ nói nếu L không đi được thì L giao ma túy cho Hà Công Q, Q sẽ vận chuyển ma túy xuống giao cho Đ, nên khoảng cuối năm 2020 Q và L thuê xe taxi (không rõ biển số, hãng xe) đi xuống khu vực gần bến xe Y, Hà Nội gặp Đ để trao đổi, thống nhất về việc giao nhận, mua bán, vận chuyển ma túy.
Khoảng cuối tháng 5/2021, Nguyễn Đắc Đ gọi điện cho L đặt mua 03 lốp và 03 can rượu (ý nói Đ muốn mua 03 bánh Heroine và 03 kg ma túy đá), L đồng ý và nói với Đ để L đi gom ma túy, Đ nói khi nào có đủ ma túy thì gọi lại cho Đ.
Ngày 02/6/2021, L sang nhà Giàng A K là hàng xóm với L ở tại xóm P, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình hỏi mua 03 bánh Heroine và 03kg ma túy đá nhưng K nói chỉ có 02 bánh Heroine và 02kg ma túy đá, giá 140.000.000đ/bánh Heroine và 130.000.000đ/kg ma túy đá. L đồng ý và bảo K cứ đưa 02 bánh Heroine và 02kg ma túy đá cho L trước, khi nào bán được L sẽ trả tiền sau. Khua đồng ý và đi ra ngoài, một lúc sau K quay lại đưa cho L 01 túi nilon bên trong có 02 bánh Heroine và 02kg ma túy đá, L nhận ma túy mang về nhà cất giấu ở tủ gần ti vi và giấu không cho ai biết. Đến tối cùng ngày, Giàng A L gọi điện cho Nguyễn Đắc Đ nói đã mua được ma túy nhưng chỉ mua được 02 bánh Heroine và 02kg ma túy đá, Đ đồng ý và bảo L cứ mang ma túy xuống Hà Nội giao cho Đ, L nói nếu mang xuống Hà Nội thì giá là 160.000.000đ/bánh Heroine và 160.000.000đ/kg ma túy đá, tổng số tiền Đạo phải trả là 640.000.000đ. L nói bận không đi được sẽ bảo Hà Công Q chủ động liên lạc với Đ để giao, nhận ma túy, khi nhận được ma túy thì Đ đưa số tiền 640.000.000đ cho Q để Q mang về cho L, Đ đồng ý.
Sáng ngày 03/6/2021, L gọi điện thoại cho Q bảo Q vận chuyển 02 bánh Heroine và 02kg ma túy đá xuống Hà Nội giao cho Đ, Q đồng ý. Khoảng 19 giờ cùng ngày, L đi xe máy xuống nhà Q và đưa cho Q 01 túi nilon màu đen bên trong có chứa 02 bánh Heroine và 02kg ma túy đá, L bảo Q là chủ động liên lạc với Đ để thống nhất thời gian, địa điểm giao, nhận ma túy, sau khi giao ma túy xong thì Q cầm 640.000.000đ do Đ đưa mang về cho L, Q đồng ý. Sau đó L đi về, còn Q cất giấu ma túy ở ngầm cầu và đi về nhà. Q gọi điện thoại cho Đ thông báo đã nhận ma túy từ L, Đ nói với Q là ngày mai (tức ngày 04/6/2021) mang xuống khu vực hầm chui số 4, Đại Lộ T, Hà Nội giao cho Đ, Q đồng ý. Trước đó, Q đã liên lạc với Hà Công G bảo G đến khu vực cầu treo gần trường C5 để nhận ma túy và cùng Q vận chuyển xuống Hà Nội giao cho khách, khi về Q sẽ trả công cho G, G đồng ý.
Trưa ngày 04/6/2021, Q một mình đi ra chỗ cất giấu ma túy, lấy túi ma túy cho vào túi nilon màu đỏ, sau đó Q gọi điện thoại bảo G đi ra khu vực cầu treo gần Trường học xã M, Q sẽ mang ma túy ra đưa cho G để G vận chuyển đi Hà Nội. G đồng ý và cầm theo một chiếc ba lô đi bộ ra gặp Q. Khoảng 30 phút sau, Q đi đến đưa cho G túi ma túy, G để túi ma túy vào bên trong ba lô. Q bảo G đón xe khách vận chuyển ma túy xuống hầm chui số 4, Đại Lộ T, Hà Nội trước, còn Q sẽ đi chuyến xe sau. Trong quá trình đi xuống Hà Nội, Q có gọi điện thoại bảo G là: “Nói với lái xe cho xuống chỗ hầm chui số 4 nhé, xuống đấy giấu túi ma túy vào bụi cây và chờ ở đấy”, G đồng ý. Sau đó, Đ gọi điện thoại cho L, L nói đã đưa ma túy cho Q để Q mang xuống giao cho Đ, sau khi nhận ma túy thì Đ chuyển số tiền 640.000.000đ cho Q mang về cho L, Đ đồng ý.
Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Hà Công G đi đến khu vực H chui số 4, Đại lộ T, Hà Nội (thuộc xã A, H, Hà Nội) G cầm chiếc balô bên trong có chứa ma túy xuống xe đợi và thông báo cho Q biết là đã đến nơi, Q bảo G cứ ở đấy đợi, Q đang trên đường xuống Hà Nội. Đến khoảng 15 giờ chiều cùng ngày thì Q và G gặp nhau tại khu vực hầm chui số 4, Đại Lộ T, tại đây G đưa ba lô chứa ma túy cho Q, Q cầm lấy và bảo G đi về trước. Bản thân Hà Công G nhận thức được số ma túy trên Hà Công Q mang đi Hà Nội là để bán, còn bán cho ai, bao nhiêu tiền, khối lượng và loại ma túy gì thì G không biết. Sau khi nhận ba lô chứa ma túy, Hà Công Q gọi điện thoại cho Nguyễn Đắc Đ thông báo Q đang ở hầm chui số 4, Đ bảo Q đợi một lúc. Khoảng 30 phút sau, Đ một mình điều khiển xe ô tô nhãn hiệu SANTAFE màu đen đến, Q cầm ba lô chứa ma túy lên ngồi ở ghế phụ phía trước xe ô tô của Đ và đưa cho Đ ba lô chứa ma túy, Đ cầm và đưa lại cho Q 01 túi nilon bên trong có tiền và bảo mang về cho L, Q đồng ý cầm túi tiền rồi xuống xe ô tô đón xe khách đi về Hòa Bình. Khi về đến nhà Q đã đưa số tiền 640.000.000đ cho L, Q cầm lại 50.000.000đ, sau đó L đưa thêm cho Q 10.000.000đ, tổng số tiền Q nhận được trong chuyến mua bán ma túy lần này là 60.000.000đ. Ngày hôm sau Q trả cho G 5.000.000 đồng tiền công G vận chuyển ma túy. Giàng A L cầm số tiền 580.000.000đ, sau đó L trả cho K 540.000.000đ, L được hưởng lợi 40.000.000đ và đã chi tiêu cá nhân hết.
* Hành vi mua bán trái phép 30 bánh Heroine, tổng khối lượng 9.917,83 gam của Giàng A L và Nguyễn Đắc Đ bị bắt quả tang ngày 29/6/2021:
Sáng ngày 28/6/2021, Giàng A L đang ở nhà một mình tại xóm P, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình thì nhận được điện thoại của Nguyễn Đắc Đ, Đ nói có khách người Trung Quốc muốn mua ma túy Heroine với số lượng lớn, khi giao dịch họ sẽ thử hàng khoảng 30 phút, sau đó sẽ thanh toán tiền. L đồng ý và hỏi Đ muốn mua bao nhiêu, Đ nói mỗi lần giao dịch sẽ từ 10 đến 15 cặp (tức là 20 đến 30 bánh Heroine), mỗi tháng mua khoảng từ 02 đến 03 lần. Do chưa có ma túy nên L nói với Đ để Lềnh sắp xếp, Đ đồng ý.
Khoảng đầu giờ chiều ngày 28/6/2021, Nguyễn Đắc Đ tiếp tục gọi điện thoại cho L nói Đ đã trao đổi với khách Trung Quốc, họ muốn mua 32 bánh Heroine và sẽ trả bằng tiền Đô La M (USD), L đồng ý và nói có gì sẽ trả lời sau. Sau đó Giàng A L liên lạc với Giàng A K để hỏi mua 32 bánh Heroine, K nói chỉ có 30 bánh Heroine, giá là 5.800 USD/bánh Heroine, L đồng ý. Lềnh và K thống nhất khoảng 19 giờ ngày hôm sau (tức ngày 29/6/2021) L và K sẽ giao nhận ma túy tại khu vực rừng già thuộc xã P, M, Hòa Bình, sau khi bán được ma túy thì L sẽ trả tiền cho K. Sau đó, L gọi điện thoại cho Đ nói L chỉ có 30 bánh Heroine giá là 6.800 USD/bánh Heroine, Đ đồng ý. Lềnh và Đ thống nhất đêm ngày 29/6/2021 sẽ gặp nhau và giao, nhận ma túy tại chân D, thành phố H, Hòa Bình, L còn nói với Đ là 30 bánh Heroine sợ nhiều không biết để chỗ nào, Đ bảo L đi xe khách nhưng L nói không an toàn, cứ thống nhất là Đ đi ô tô lên thành phố H còn L sẽ đi xe máy mang ma túy xuống. Đ đồng ý và nói cứ đến thành phố H thì gọi cho Đ, L đồng ý và nói tiền nong Đ phải chắc chắn cho L, Đ bảo L cứ yên tâm, Đ sẽ bố trí đủ 204.000 USD cho L.
Khoảng 15 giờ 30 phút chiều ngày 29/6/2021, Đ gọi điện cho L nói Đ đã trao đổi với khách mua Heroine rồi, khách sẽ cho người cầm tiền USD đi cùng Đ lên Hòa Bình, họ phải kiểm tra ma túy xong mới đưa tiền. L đồng ý và bảo sẽ mang ma túy xuống cho Đ, hẹn địa điểm giao nhận ma túy tại ngã ba chân C (chỗ cây Đa), thành phố H, Đ đồng ý và dặn L khi đi để máy điện thoại ở nhà, dùng điện thoại khác liên lạc với Đ. Chiều tối cùng ngày, Giàng A L gọi điện thoại cho Hà Công T2, sinh năm 1988, trú tại: xã B, huyện M, tỉnh Hòa Bình để thuê xe taxi T2 đi Hòa Bình nhưng T2 nói bận không đi được. Sau đó, L gọi điện thoại cho Giàng A T3, sinh năm 1986, nhà ở xóm P, xã H, M, Hòa Bình bảo T3 đi xe máy xuống đèo T, Phú C1, Tân Lạc xem đường có Công an làm nhiệm vụ không, nếu thấy Công an thì báo cho L biết. Thò hỏi L đi xem đường để làm gì thì L giấu việc mình đi vận chuyển ma túy mà nói Thò cứ đi đi, khi nào đi đến Đèo T, Phú C1, T thì quay về, khi về L sẽ trả công (không nói rõ là bao nhiêu tiền), T3 đồng ý. Sau đó L để điện thoại có sim số: 0862.329.723 của mình ở nhà rồi cầm điện thoại của chị Sùng Y D (là vợ L) có gắn sim số: 0383.263.117 để liên lạc với Đ rồi một mình đi xe mô tô BKS: 28M1-114.36 xuống khu vực 81, thuộc xã Đ, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Tại đây, L vào nhà Giàng Y P (là em họ của L) gửi xe mô tô BKS: 28M1-114.36 của L lại và mượn xe mô tô BKS: 28C1-002.68 của Giàng A C2 (anh trai P) đang để ở nhà P. Lềnh điều khiển xe mô tô BKS: 28C1-002.68 đến khu vực rừng già thì gặp K đang đứng một mình ở lề đường. Khua đưa cho L một bao tải bên trong có chứa 30 bánh Heroine, L giấu 11 bánh Heroine vào cốp xe mô tô BKS: 28C1-002.68 còn 19 bánh Heroine trong bao tải Lềnh cho vào túi vải màu đỏ nâu của L mang theo từ trước rồi để lên giá để hàng giữa xe mô tô (gần yếm xe) rồi điều khiển xe mô tô mang tổng số 30 bánh Heroine để giao cho Nguyễn Đắc Đ.
Quá trình đi không thấy T3 thông báo có Công an nên L vẫn tiếp tục vận chuyển ma túy đến điểm hẹn với Đ, khi L đi đến khu vực dốc đá Trắng, Thung K1 thì L và Đ có liên lạc với nhau, Đ hỏi L đi đến đâu rồi, L bảo đi đến dốc đá T4, đoạn Thung khe, Mai C3, Đ hỏi có người đi trước Ăng ten chưa (ý là có người đi hoa tiêu, xem đường), L bảo có rồi, Đ bảo cứ để người ăng ten đi đến thành phố H thì gọi cho Đ. Sau khi nói chuyện với Đ xong thì L thấy T3 đi xe máy ngược chiều quay về. Dọc đường đi L và Đ có nhiều cuộc điện thoại liên lạc trao đổi với nhau, chủ yếu là việc Đ hỏi L đi đến đâu rồi.
Khoảng 22 giờ cùng ngày, Đ tiếp tục gọi điện hỏi về vị trí, địa điểm của L, L bảo đang rẽ vào đường T, Đ dặn L gặp nhau ở chỗ ngã ba mọi lần (ngã ba chân cun, có cây đa) ở đầu thành phố rồi Đ hỏi L bao lâu nữa thì đi đến địa điểm đó, L nói khoảng một tiếng nữa, Đ đồng ý. Khi Giàng A L vận chuyển 30 bánh Heroine đi đến khu vực xã T, huyện C, Hòa Bình thì gặp tổ công tác Công an tỉnh H đang làm nhiệm vụ, yêu cầu dừng xe kiểm tra, L không chấp hành mà điều khiển xe bỏ chạy về hướng xã T, chạy được khoảng 500m thì L vứt chiếc túi có chứa 19 bánh Heroine và 01 điện thoại di động của L xuống rãnh thoát nước bên phải đường rồi tiếp tục tăng ga bỏ chạy, được một đoạn thì bị lực lượng Công an bắt giữ, phát hiện thu giữ trong cốp xe mô tô BKS: 28C1-002.68 do L điều khiển bên trong có 11 bánh Heroine. Tổ công tác đã đưa L quay lại chỗ Lềnh ném túi ma túy, kiểm tra thu giữ 19 bánh Heroine và 01 điện thoại của L. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ toàn bộ vật chứng và đưa L về trụ sở để làm việc.
Trong quá trình Giàng A L làm việc với Cơ quan điều tra, thì số điện thoại 0986.454.816 liên tục gọi đến điện thoại của L. Giàng A Lềnh khai báo số điện thoại trên là của người mua ma túy tên Đ ở Hà Nội và là người sẽ nhận 30 bánh Heroine của L tại khu vực dốc C, đầu thành phố H. Tổ công tác đã cho Giàng A L nghe điện thoại của Đ (có ghi âm lại cuộc nói chuyện), đồng thời nhanh chóng tiến hành xác minh và phát hiện tại khu vực gần chân Dốc Cun thuộc thành phố H có một chiếc xe ô tô màu đen, nhãn hiệu HYUNDAI SANTAFE, biển số: 30F-791.84 do Nguyễn Đắc Đ điều khiển. Khi tổ công tác đến gần, Nguyễn Đắc Đ đã điều khiển xe ô tô biển số: 30F-791.84 bỏ chạy về hướng Hà Nội theo đường vành đai (đường tránh thành phố), tổ công tác đã dùng xe ô tô truy đuổi theo đến địa phận phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình thì Nguyễn Đắc Đ do không làm chủ được tay lái đã tự lao xe xuống lề đường. Tiến hành khám xét xe ô tô biển số 30F-791.84 thu giữ trên kính chắn gió của xe có gắn 01 camera hành trình bên trong có 01 thẻ nhớ có một số file video có âm thanh. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng và tiến hành trưng cầu giám định nội dung, giọng nói theo quy định pháp luật.
Tại Kết luận giám định số: 216/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 22 tháng 9 năm 2021 của Phòng K2 - Công an tỉnh H, kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong 30 gói dạng bánh hình hộp chữ nhật có tổng khối lượng là 9917,83g (Chín nghìn chín trăm mười bảy phẩy tám mươi ba gam), là ma túy, loại Heroine.
Tại Kết luận giám định số: 5675/C09-P6 ngày 09 tháng 7 năm 2021 của V
- Bộ C6 kết luận về các tệp tin video có âm thanh bên trong thẻ nhớ thu giữ trên xe ô tô BKS 30F-791.84:
“- Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các tập tin video mẫu cần giám định.
- Tiếng nói của người đàn ông trong mẫu cần giám định (được ký hiệu là “Đạo” trong bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định) và tiếng nói của Nguyễn Đắc Đ trong mẫu so sánh là của cùng một người.
- Nội dung cuộc hội thoại trong mẫu cần giám định đã được chuyển hóa thành văn bản”.
Kèm theo Kết luận giám định gồm: 01 bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định gồm 34 trang khổ giấy A4.
Tại Kết luận giám định số: 7870/KL-C09-(P6) ngày 09 tháng 02 năm 2022 của V - Bộ C6 kết luận về tập tin âm thanh ghi âm cuộc nói chuyện giữa Giàng A L với người mua ma túy:
“ - Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong tập tin âm thanh mẫu cần giám định.
- Tiếng nói của người đàn ông xưng là “em” trong mẫu cần giám định và tiếng nói của Nguyễn Đắc Đ trong mẫu so sánh không phải là cùng một người.
- Tiếng nói của người đàn ông được gọi là “anh” trong mẫu cần giám định (Được ký hiệu là “Đạo” trong bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định) và tiếng nói của Nguyễn Đắc Đ trong mẫu so sánh là của cùng một người.
- Nội dung cuộc hội thoại trong mẫu cần giám định đã được chuyển hóa thành văn bản”.
Kèm theo kết luận giám định gồm: 01 bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định gồm 02 trang khổ giấy A4.
Ngày 28/7/2021, Hà Công Q đã chết tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H do ngừng tuần hoàn ngoại biên. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh H đã ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can số 03/CSMT ngày 29/9/2021 đối với Hà Công Q.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2023/HS-ST ngày 15 tháng 3 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 40 của Bộ luật hình sự; Xử phạt Bị cáo Nguyễn Đắc Đ tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Giàng A L, Hà Công G; quyết định xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo, quyền làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20/3/2023, bị cáo Giàng A L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; ngày 22/3/2023, bị cáo Nguyễn Đắc Đ có đơn kháng cáo kêu oan.
Ngày 23/3/2023, chị Sùng Y D có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm; đến ngày 28/4/2023, chị Sùng Y D có đơn kháng cáo bổ sung với nội dung kháng cáo một phần bản án sơ thẩm liên quan tới việc Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên trả lại 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Sùng Y D; 01 xe mô tô biển kiểm soát 28M1-115.36, tuy nhiên, chị D vẫn chưa nhận được các tài sản nêu trên, đề nghị Tòa án xem xét sớm giao trả các tài sản nêu trên cho chị D.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 14/6/2023, bị cáo Giàng A L đã rút toàn bộ kháng cáo, Tòa án cấp phúc thẩm đã ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Giàng A L; Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, bị cáo Nguyễn Đắc Đ giữ nguyên kháng cáo kêu oan, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khách quan, toàn diện vụ án, minh oan cho bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Sùng Y D tự nguyện rút toàn bộ nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Đắc Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và xử phạt bị cáo mức hình phạt tử hình là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội. Không có cơ sở chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đắc Đ.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đắc Đ trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội mua bán trái phép tổng số 32 bánh heroine vào các 04/6/2021 và 29/6/2021 là không có căn cứ; ngày 04/6/2021 bị cáo không có mặt ở H chui số 4 Đại lộ T để nhận ma túy, vì hôm đó từ lúc 12 giờ 30 phút đến 17 giờ 30 phút bị cáo cùng vợ là Nguyễn Mai T1 lên nhà anh Bạch Ngọc Đ1 ở B, Hà Nội chơi (có xác nhận của chị T1 và bà N đã được lập vi bằng). Ngày 29/6/2021, bị cáo đi cùng anh Bạch Ngọc Đ1 lên thành phố H để chơi nhưng khi đi đến dốc C4, bị cáo thay đổi ý định và đi xe ô tô quay về Hà Nội; khi thấy cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ bị cáo sợ bị bắn tốc độ nên tăng ga bỏ chạy, khi bị cáo bị bắt, trên người không có ma túy và sau khi khám xét thì bị cáo cũng không có nhiều tiền đến như vậy để nhận ma túy từ L. Cần triệu tập thêm người làm chứng là anh Bạch Ngọc Đ1 và bà N (mẹ anh Đ1); đề nghị làm rõ vai trò, hành vi của Giàng A K; Do chưa đủ căn cứ kết luận giữa L và Đ có giao dịch, mua bán ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) hủy bản án sơ thẩm, trả hồ sơ cho Viện kiểm sát cấp sơ thẩm điều tra bổ sung làm rõ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của Nguyễn Đắc Đ cũng như tránh bỏ lọt tội phạm (G, Bạch Ngọc Đ1).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
. Đối với kháng cáo của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Sùng Y D, tại phiên tòa phúc thẩm, chị Sùng Y D tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo, HĐXX sẽ căn cứ vào quy định tại Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự để đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của chị Sùng Y D.
. Về yêu cầu của người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX triệu tập thêm Bạch Ngọc Đ1 và bà N (mẹ Đ1) là không cần thiết; Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh các đối tượng Bạch Ngọc Đ1, Giàng A K và tiến hành triệu tập nhiều lần nhưng Bạch Ngọc Đ1, Giàng A K vắng mặt tại địa phương, không ai biết Đ1, K đi đâu, làm gì. Do chỉ có duy nhất lời khai của L (đối với K) và lời khai của Đ (đối với Đ1) nên chưa đủ cơ sở để khởi tố bị can đối với Bạch Ngọc Đ1, Giàng A K. Cơ quan điều tra đã tách ra, tiếp tục xác minh làm rõ hành vi phạm tội của Đ1, K (nếu có), khi nào đủ căn cứ sẽ giải quyết sau bằng vụ án hình sự khác là phù hợp.
. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, bị cáo Nguyễn Đắc Đ tiếp tục không thừa nhận hành vi mua bán trái phép tổng số 32 bánh heroine vào các 04/6/2021 và 29/6/2021 vì cho rằng bị cáo có chứng cứ ngoại phạm vào ngày 04/6/2021; ngày 29/6/2021 bị cáo đi cùng người đàn ông tên Đ1, trú tại B, Hà Nội lên thành phố H để chơi nhưng khi đi đến dốc C4, bị cáo thay đổi ý định và đi xe ô tô quay về Hà Nội, khi thấy cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ bị cáo sợ bị bắn tốc độ nên tăng ga bỏ chạy, khi bị cáo bị bắt khi trên người không có ma túy và khi khám xét thì bị cáo cũng không có nhiều tiền đến như vậy để mua ma túy từ L. Bị cáo không phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Tuy nhiên, hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh như sau:
Căn cứ vào Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Giàng A L (BL 01-04); Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL 242) thể hiện Tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh hòa B phối hợp với các cơ quan phát hiện bắt quả tang Giàng A L có hành vi vận chuyển trái phép 30 bánh Heroine; L sử dụng số điện thoại 0383.263.117 (của chị Sùng Y D - Vợ của L) để liên lạc trong quá trình vận chuyển trái phép chất ma túy. Quá trình L bị bắt quả tang, số điện thoại 0986.454.816 liên tục gọi đến điện thoại của L. Quá trình L nghe điện thoại, Tổ công tác đã nhanh chóng tiến hành xác minh và phát hiện tại khu vực gần chân Dốc Cun thuộc thành phố H có một chiếc xe ô tô màu đen, nhãn hiệu HYUNDAI SANTAFE, biển số: 30F-791.84 do Nguyễn Đắc Đ điều khiển. Khi tổ công tác đến gần, Nguyễn Đắc Đ đã điều khiển xe ô tô biển số: 30F-791.84 bỏ chạy về hướng Hà Nội theo đường vành đai (đường tránh thành phố), tổ công tác đã dùng xe ô tô truy đuổi theo đến địa phận phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình thì Nguyễn Đắc Đ do không làm chủ được tay lái đã tự lao xe xuống lề đường và bị bắt.
Lời khai của bị cáo Giàng A L về việc thực hiện hành vi mua bán trái phép 30 bánh Heroine với Nguyễn Đắc Đ tại thời điểm bị bắt quả tang phù hợp và thống nhất với lời khai của bị cáo trong suốt quá trình giải quyết vụ án thông qua các Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can, Bản tự khai, Bản tường trình của bị cáo Giàng A L1 (tại các BL 698 – 799); phù hợp với diễn biến khách quan của sự việc, phù hợp với việc trích list điện thoại thể hiện Giàng A L thường xuyên liên lạc, trao đổi với Nguyễn Đắc Đ trong quá trình vận chuyển trái phép chất ma túy.
Lời khai của Giàng A L còn phù hợp với Biên bản nhận dạng (BL 930 – 931) có nội dung thể hiện bị cáo nhận diện được Nguyễn Đắc Đ chính là người mua bán trái phép chất ma túy với L vào các ngày 29/6/2021 và 04/6/2021; phù hợp với Biên bản nhận dạng (BL 933- 936) có nội dung thể hiện Hà Công Q nhận dạng được Giàng A L là người thuê Q vận chuyển ma túy để giao cho Nguyễn Đắc Đ vào ngày 04/6/2021; Biên bản nhận dạng (BL 937 – 940) có nội dung thể hiện Giàng A L nhận dạng ra Hà Công Q là người Lềnh đã thuê vận chuyển trái phép ma túy xuống cầu chui số 4 Đại lộ T để giao bán cho Đ; Biên bản nhận dạng (BL 941 – 944) có nội dung thể hiện Hà Công Q nhận dạng ra Nguyễn Đắc Đ là người bị cáo đã giao ma túy vào ngày 04/6/2021.
Lời khai của Giàng A L còn phù hợp với lời khai của Hà Công Q tại các bản khai (BL 860 – 907) đều có nội dung thể hiện Hà Công Q là người được L thuê vận chuyển ma túy để giao cho Nguyễn Đắc Đ. Lời khai của Hà Công G (BL 908 – 929) tại các bản ghi lời khai, bản tự khai đều có nội dung tương tự và thống nhất.
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Đắc Đ còn được thể hiện tại kết luận giám định số 5675/C09-P6 ngày 09/7/2021 về các tập tin video có âm thanh bên trong thẻ nhớ thu giữ trên xe ô tô BKS 30F-791.84 do Đ điều khiển, kết luận: “Tiếng nói của người đàn ông trong mẫu cần giám định (được ký hiệu là “Đạo” trong bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định) và tiếng nói của Nguyễn Đắc Đ trong mẫu so sánh là của cùng một người”; Tại kết luận giám định số: 7870/KL-C09-(P6), ngày 09 tháng 02 năm 2022 của V - Bộ C6 kết luận về tập tin âm thanh ghi âm cuộc nói chuyện giữa Giàng A L với người mua ma túy kết luận: “Tiếng nói của người đàn ông được gọi là “anh” trong mẫu cần giám định (Được ký hiệu là “Đạo” trong bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định) và tiếng nói của Nguyễn Đắc Đ trong mẫu so sánh là của cùng một người” chứng tỏ Giàng A L và Nguyễn Đắc Đ có trao đổi với nhau nội dung liên quan đến mua bán ma túy trong quá trình Lềnh đang vận chuyển ma túy đến thành phố H vào đêm ngày 29/6/2021.
Nhằm xác định chính xác bị cáo Nguyễn Đắc Đ có thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy vào ngày 04/6/2021 hay không, sau khi trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quá trình điều tra bổ sung và truy tố bị cáo, tại các bản khai của bị cáo Giàng A L (BL 1047-1048; 1049), bị cáo giữ nguyên lời khai đã trình bày và khẳng định bị cáo có hành vi mua bán trái phép với Nguyễn Đắc Đ 02 bánh heroine và 02kg ma túy đá với giá 640.000.000 đồng vào ngày 04/6/2021, lời khai của Nguyễn Đắc Đ phù hợp với lời khai của chị Nguyễn Mai T1 (tại các BL 1051 – 1052; 1053) có nội dung thể hiện ngày 04/6/2021, Nguyễn Đắc Đ cùng chị T1 có đi xe ô tô Santafe lên nhà anh Bạch Ngọc D1 ở B chơi đến chiều cùng ngày thì về Hà Nội.
Do đó, căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của các bị cáo Giàng A L, Hà Công Q, Hà Công G, kết luận giám định, biên bản nhận dạng, biên bản đối chất, list điện thoại, các vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định:
Trong tháng 6/2021 các bị cáo Giàng A L, Nguyễn Đắc Đ đã 02 lần thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy cụ thể:
Lần thứ nhất: Ngày 04/6/2021, các Giàng A L, Nguyễn Đức Đ2 đã thực hiện hành vi mua bán trái phép 02 bánh Heroine, tổng khối lượng 632,74 gam Heroine thông qua Hà Công Q, Hà Công G (tính theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo, lấy trọng lượng bánh Heroine cùng loại thấp nhất (316,37 gam) trong số 30 bánh Heroine đã thu giữ nhân với số lượng 02 bánh Heroine Lềnh, Đ2, Q, G đã mua bán trót lọt).
Lần thứ 2: Ngày 29/6/2021 các bị cáo Giàng A L, Nguyễn Đắc Đ đã thực hiện hành vi mua bán trái phép tổng số 30 bánh Heroine với tổng khối lượng 9917,83 gam ma túy loại Heroine với giá 204.000 USD.
Như vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử bị cáo Nguyễn Đắc Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, bị cáo Nguyễn Đắc Đ không bị oan.
Đối với 02kg ma túy đá mà các bị cáo khai nhận đã tham gia mua bán trái phép vào ngày 04/6/2021: Do Cơ quan điều tra không thu giữ được, không xác định loại chất ma túy nên Viện kiểm sát chưa xử lý đối với Giàng A L, Nguyễn Đắc Đ, Hà Công Q, Hà Công G về hành vi tham gia mua bán 02kg ma túy đá nêu trên là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
Giàng A L còn khai có 03 lần khác mua bán trái phép chất ma túy với Nguyễn Đắc Đ, nhưng chỉ có duy nhất lời khai của Giàng A L, do đó chưa đủ cơ sở để quy kết Giàng A L, Nguyễn Đắc Đ đối với các lần mua bán trái phép chất ma túy trên.
Đối với hành vi mua bán của đối tượng Giàng A K, Cơ quan điều tra đã tác ra để điều tra, xử lý bằng vụ án khác.
. Về hình phạt đối với bị cáo, HĐXX thấy: Do bị cáo kháng cáo kêu oan, không đề nghị xem xét tới hình phạt của bị cáo, do đó HĐXX không xem xét, giải quyết. Mặc dù vậy, ngay cả khi bị cáo đề nghị HĐXX xem xét tới hình phạt của bị cáo thì căn cứ vào nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, trên cơ sở xem xét tới tính chất, mức độ hành vi, vai trò của bị cáo trong vụ án, với số lượng ma túy bị cáo mua bán trái phép là đặc biệt lớn (tổng số 32 bánh ma túy loại Heroine với tổng khối lượng 10.550,57 gam), đối chiếu với quy định pháp luật thì mức án tử hình mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo là không nặng, bị cáo không còn khả năng cải tạo, cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly vĩnh viễn bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đảm bảo răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung tội phạm.
. Từ những phân tích, nhận định nêu trên, HĐXX không có cơ sở chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo kêu oan của bị cáo Nguyễn Đắc Đ và đề nghị của người bào chữa cho bị cáo về việc hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại.
. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Đắc Đ phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Chị Sùng Y D đã rút kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 348; điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Sùng Y D; Phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2023/HS-ST ngày 15 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình về phần xử lý vật chứng vụ án có hiệu lực pháp luật.
2. Không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2023/HS-ST ngày 15 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đắc Đ, cụ thể:
Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 40 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc Đ tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
Trong thời hạn 07 (bảy ngày) kể từ ngày tuyên án, bị cáo Nguyễn Đắc Đ được quyền làm đơn lên Chủ tịch N1 xin ân giảm án tử hình.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đắc Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT I – TANDTC; - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - Cục THADS tỉnh Hòa Bình; - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Hòa Bình; - Trại tạm giam - Công an tỉnh Hòa Bình; - Bị cáo (qua TTG); - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu: P. HCTP, HSVA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Văn Tuyển |