vanban.org

Bản án 91/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 25/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng Ha L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng Ha L 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/11/2025. Án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng Ha L - Sử dụng trái phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng Ha L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 256a Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2026/HS-ST
Ngày: 25-3-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đới Xuân Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Tống Văn Đông

- Bà Lý Thị The

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Giàng Thị Dơ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 3 năm 2026 tại Nhà văn hóa bản N, xã B, tỉnh Lai Châu. Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu xét xử sơ thẩm, công khai, lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 89/2026/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2026. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2026/QĐXXST- HS ngày 11/3/2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vàng Ha L - Sinh năm 1992 tại xã P, tỉnh Lai Châu.

Nơi cư trú: Bản T, xã P, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: La hủ; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng Ca Đ (đã chết) và bà Ly Mò B - sinh năm 1971; Bị cáo có chồng là Ly A T và có 02 con. Con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 19/3/2024, Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa bị cáo vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn chấp hành 12 tháng. Ngày 15/4/2025, bị cáo đã chấp hành xong quyết định. Tính đến thời điểm phạm tội lần này, bị cáo chưa được xóa tiền sự.

Nhân thân: Ngày 01/6/2023, bị cáo bị Công an huyện M xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 07/6/2023, bị cáo đã chấp hành xong việc nộp phạt. Tính đến lần phạm tội này bị cáo đã được xoá tiền sự này.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/11/2025 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân O - Luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (Có mặt)

Người phiên dịch cho bị cáo: Bà Vàng Mỳ X - sinh năm 1991

Nơi cư trú: Bản H, xã B, tỉnh Lai Châu. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vàng Ha Lơ bắt đầu sử dụng và nghiện ma túy từ năm 2022. Ngày 19/3/2024, Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4) đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng. Ngày 15/4/2025, Lơ chấp hành xong thời hạn cai nghiện bắt buộc. Ngày 27/10/2025, sau khi trở về địa phương, L bị Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Lai Châu ra quyết định quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú, thời hạn quản lý kể từ ngày 27/10/2025 đến ngày 27/10/2027 (theo Quyết định số 1266/QĐ-UBND ngày 27/10/2025).

Mặc dù đã được cai nghiện ma túy và đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện tại địa phương, nhưng Vàng Ha L vẫn tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 09/11/2025, L một mình đi bộ từ nhà tại bản T, xã P, tỉnh Lai Châu đến bản N, xã P với mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Khi đến bản N, L gặp một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch và nhờ người này mua giúp 50.000 đồng Heroine; đồng thời hứa sẽ cho người đàn ông này cùng sử dụng. Người đàn ông đồng ý, nhận số tiền L đưa và đi vào bên trong bản Nhú Ma.

Một lúc sau, người đàn ông quay lại và thông báo đã mua được H, sau đó dẫn L đến khu vực phía sau điểm trường tiểu học B1, xã P, tỉnh Lai Châu để sử dụng. Tại đây, người đàn ông lấy ra 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu hồng, bóc bỏ lớp nilon, lấy bật lửa gas và mảnh giấy bạc mang theo từ trước, cho H vào mảnh giấy bạc, dùng bật lửa hơ nóng, sau đó L và người đàn ông này đã sử dụng hết số Heroine bằng hình thức hít.

Sau khi sử dụng Heroine xong, L đi bộ về nhà; người đàn ông trên đi đâu, làm gì thì L không biết.

Ngày 11/11/2025, Công an xã P, tỉnh Lai Châu triệu tập Vàng Ha L để xét nghiệm chất ma túy theo quy định về quản lý sau cai nghiện. Kết quả test nhanh bằng que thử cho thấy V Ha Lơ dương tính với chất ma túy thuộc nhóm OPI (Heroine, M, C...). Sau đó, Công an xã P đã tiến hành lấy mẫu nước tiểu của Vàng Ha L gửi giám định theo quy định.

Tại bản Kết luận giám định số: 3327/KL-KTHS ngày 14/11/2025 của Phòng K Công an tỉnh P, kết luận: Tìm thấy M và 6-MAM trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là nước tiểu của Vàng Ha L, sinh năm 1992 ... (Morphine và 6-MAM đều là sản phẩm chuyển hoá của Heroine trong cơ thể người).

Tại bản cáo trạng số 89/CT-VKSKV4 ngày 06/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu đã truy tố Vàng Ha Lơ về tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phân tích các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a ; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025). Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tuyên bố bị cáo Vàng Ha L phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy" xử phạt bị cáo Vàng Ha L mức án từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa nhất trí với nội dung, quyết định truy tố. Không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp mà Kiểm sát viên đã đề nghị. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng, đồng ý với quan điểm của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra; Viện kiểm sát; Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo:

Xét lời khai nhận của bị cáo Vàng Ha L tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu đã truy tố.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vàng Ha Lơ là đối tượng đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy, thời gian từ ngày 27/10/2025 đến ngày 27/10/2027. Khoảng 09 giờ ngày 09/11/2025, L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Heroine tại khu vực phía sau điểm trường tiểu học B1, xã P, tỉnh Lai Châu.

Ngày 11/11/2025, L bị Công an xã P triệu tập và lấy mẫu để giám định chất ma túy trong cơ thể. Kết quả giám định xác định trong mẫu nước tiểu của L có chứa Morphine và 6-MAM, đều là các chất chuyển hóa của Heroine trong cơ thể người.

Bị cáo Vàng Ha L có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo là ít nghiêm trọng, nhưng gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý đặc biệt về các chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy khi đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự. Vì vậy quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác liên quan là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với tính chất, mức độ cũng như hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tiền sự: Ngày 19/3/2024, Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa bị cáo vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn chấp hành 12 tháng. Ngày 15/4/2025, bị cáo đã chấp hành xong quyết định. Tính đến thời điểm phạm tội lần này, bị cáo chưa được xóa tiền sự. Bị cáo là đối tượng quản lý sau cai nghiện.

Ngoài tiền sự trên, ngày 01/6/2023, bị cáo bị Công an huyện M xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 07/6/2023, bị cáo đã chấp hành xong việc nộp phạt. Tính đến lần phạm tội này bị cáo đã được xoá tiền sự này.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử cần áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.

Do bị cáo là người nghiện ma túy lâu năm, bị cáo đã đi cai nghiện và đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo. Đủ thời gian để bị cáo cai nghiện, trở thành công dân có ích cho xã hội.

. Về vật chứng của vụ án:

- Gói Heroine bị cáo đã sử dụng hết; các dụng cụ để sử dụng ma túy là của người đàn ông mua ma túy hộ bị cáo, bị cáo không biết người đàn ông này, cơ quan Điều tra không thu giữ được vật chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- 10 ml nước tiểu của bị cáo đã gửi đi giám định không hoàn lại mẫu vật: Việc gửi mẫu giám định là đúng quy định. Mẫu vật không hoàn lại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về những vấn đề khác:

Đối với người đàn ông lạ mặt đã mua hộ bị cáo H và cung cấp công cụ cho bị cáo sử dụng ma túy: Do bị cáo không biết nhân thân, lai lịch người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

. Về án phí: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên cần miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng Ha L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng Ha L 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/11/2025.

3. Án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ