vanban.org

Bản án 91/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt: bị cáo Bùi Xuân T 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Bùi Xuân T cho Ủy ban nhân dân phường V, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BA - HS - T - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2026/HS-ST
Ngày: 21 - 4 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Hồ Mộng Lan (Hồ Thị Lan)

- Bà Phạm Thu Hà.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1

- Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Phạm Lã Việt Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2026/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2026/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2026 đối với:

- Bị cáo: Bùi Xuân T, sinh ngày 16 tháng 10 năm 1970, tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: tổ B, khu H, phường V, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (đã chết); có vợ là Trần Thị H, có 02 con; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo đầu thú, quyết định tạm giữ từ ngày 18/11/2025 đến ngày 27/11/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh; có mặt.

- Bị hại: ông Đồng Bá P, sinh năm 1967; địa chỉ: tổ D, khu H, phường B, tỉnh Quảng Ninh (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: anh Đồng Tuấn A, sinh năm 1983; nơi cư trú: tổ D, khu H, phường B, tỉnh Quảng Ninh (theo Giấy uỷ quyền ngày 05/12/2025 được chứng thực số 2885, quyền số 01 – SCT/CK,ĐC tại Văn phòng C1); vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH MTV Đ; địa chỉ trụ sở: thôn Đ, phường H, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: ông Trần Đại D – Chức vụ: Giám đốc.

- Người làm chứng: Anh Đồng Bá P1, bà Bùi Thị C – đều vắng mặt (bà C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt); chị Nguyễn Thị A1 – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Xuân T có giấy phép lái xe ô tô hạng C là lái xe cho Công ty TNHH một thành viên Đ. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 18/11/2025, T điều khiển xe ô tô tải biển số 14H – 100.65 của công ty chở gạch vỡ từ xí nghiệp G, thuộc phường V, tỉnh Quảng Ninh đến đổ tại khu vực gần chung cư B thuộc phường B, tỉnh Quảng Ninh.

Khoảng 12 giờ 05 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô trên đi trên đoạn đường Q theo hướng từ vòng xuyến Kênh Đ đi ngã tư A. Khi đến khu vực ngã tư thuộc tổ A, khu G, phường V, Quảng Ninh, T điều khiển xe ô tô chuyển hướng rẽ phải về ngã ba H, do không chú ý quan sát, đầu bên phải ba đờ sốc trước của xe ô tô do T điều khiển đâm vào bên trái yên xe mô tô biển số 34M8 - 2721 do ông Đồng Bá P điều khiển khi hai phương tiện đang di chuyển ngang cùng chiều, làm xe mô tô và ông P ngã đổ trên đường, bánh xe phía sau cùng bên phải của xe ô tô chèn qua người ông P, xe mô tô bị xe ô tô kéo lê trên đường khoảng 30 mét. Hậu quả: ông P tử vong tại chỗ, xe mô tô hư hỏng. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q.

Biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện: Hiện trường không còn nguyên vẹn, khu vực xảy ra tai nạn có các gờ giảm tốc màu vàng, bên phải đường phía trước nơi xảy ra tai nạn về phía ngã ba Kênh Đồng gắn biển W207B- “giao nhau với đường không ưu tiên bên phải”, biển DP.134- “Hết tốc độ tối đa cho phép”. Mốc chuẩn là chân trụ điện “TC1.8TBA Giếng Đáy 27”, mép chuẩn là mép đường bên phải. Hiện trường để lại các dấu vết sau: (1) là vết cày xước đứt đoạn dài 30,9 m, chia làm 02 đoạn, đoạn đầu tiên dài 8,7 m, sau đó là đám vết trượt xước cùng nhiều vết song song hướng vòng xuyến Kênh Đ- ngã ba H và cong về hướng Đông Bắc; (2) là tử thi nam giới nằm ngửa, mặc áo khoác màu xanh, quần dài màu tím than, thân gập, đầu mặt bẹp, biến dạng, thoát toàn bộ tổ chức não ra ngoài; (3) là xe ô tô biển số 14H- 100.65, tâm trục lốp sau cùng ngoài cùng bên trái cách đầu vết (1) 23m, xe đang đỗ trên đường rẽ về ngã ba H, đầu xe quay hướng ngã ba H, tâm trục lốp trước bên phải cách mép chuẩn 4,95 m. Cách tâm trục bánh trước bên trái xe ô tô 0,75 m về ngã ba H là tâm trục bánh trước xe mô tô biển số 34M8-2721 nằm đổ nghiêng bên phải, vị trí điểm cuối (1) trùng với tâm trục bánh trước xe mô tô, ký hiệu (4). Quá trình khám nghiệm, đã thu giữ 02 đoạn video từ camera giám sát hướng ra Quốc lộ B trước nhà anh Đào Trung K và chị Vũ Thị T2 tại khu vực hiện trường.

Các biên bản khám nghiệm phương tiện thể hiện:

- Xe ô tô biển số 14H- 100.65: khu vực mặt ngoài bên phải ba đờ sốc phía trước tì chùi mất bụi, điểm thấp nhất cách mặt đất 63 cm; góc dưới cùng bị xước sơn, bám dính chất bột màu trắng, cạnh dưới bám dính chất màu đen. Cạnh trên bên phải ba đờ sốc phía trước tì chùi mất bụi, điểm thấp nhất cách mặt đất 120 cm. Mặt ngoài phía trước bậc lên xuống cabin bên phải bị tì chùi mất bụi, điểm thấp nhất cách mặt đất 60 cm. Mặt lăn, má ngoài bánh xe phía sau cùng bên phải dính máu mô cơ thể. Mặt trước cạnh dưới đầu bánh trước bị mài xước kim loại.

- Xe mô tô biển số 34M8-2721: Bên trái: Mặt ngoài ốp nhựa sườn xe bên trái tì xước nhựa bám dính chất màu đen, đèn xi nhan phía sau bên trái bám dính chất màu đen, điểm thấp nhất, cao nhất cách mặt đất lần lượt 64 cm, 74 cm. Giá để chân sau bên trái gập vào, tì sát vào càng giảm sóc phía sau bên trái, đầu ngoài bám dính chất màu xanh dạng sơn. Mặt lăn bên trái của bánh sau mài xước cao su; vành bánh trước cong vênh, cạnh phía bên phải bị mài vẹt kim loại, bám dính chất màu trắng. Bên phải: Ghi nhận nhiều dấu vết mài xước kim loại, mài xước nhựa, nứt vỡ nhựa của các bộ phận bên phải, hướng từ trái sang phải, bám dính chất bột màu trắng.

Bản Kết luận giám định số 2001/KL - KTHS ngày 26/12/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q: xe ô tô biển số 14H – 100.65 và xe mô tô biển số 34M8 – 2721 có va chạm, vị trí va chạm giữa hai xe tại đầu bên phải ba đờ sốc trước xe ô tô với bên trái yên xe mô tô, khi va chạm hai xe đang di chuyển tiến trên đường. Vị trí va chạm thuộc phần đường dành cho phương tiện giao thông di chuyển theo hướng từ vòng xuyến Kênh Đ về ngã ba H.

Bản Kết luận giám định tử thi số 1776/KLGĐTT - KTHS ngày 26/11/2025 của Phòng K1, Công an tỉnh Q đối với ông Đồng Bá P: rách da, dập nát da, dập vỡ toàn bộ các xương vùng đầu, mặt; gãy vỡ toàn bộ các xương cột sống cổ. Bầm tím, xước da toàn bộ vùng ngực, bụng hướng từ dưới lên trên, từ trái sang phải; gãy toàn bộ các xương vùng ngực. Rách da vùng ngang hai gai chậu trước trên, bờ mép tương đối gọn, các tạng trong ổ bụng thoát ra ngoài qua vết rách da; gan, tim, quai ruột bị đụng dập. Gãy vỡ toàn bộ các xương cột sống, thắt lưng, xương bả vai, cung sau các xương sườn. Trong ổ bụng có ít máu lỏng, các tạng còn trong ổ bụng đụng dập. Tổ chức não không còn trong hộp sọ, có ít máu lỏng trong hộp sọ. Nguyên nhân chết: sốc đa chấn thương.

Bản Kết luận giám định số 09 ngày 12/01/2026 của Trung tâm pháp y, Sở Y kết luận: tìm thấy E trong mẫu máu của ông Đồng Bá P với hàm lượng 27,78mg/100ml. Kết quả xét nghiệm đối với Bùi Xuân T ngày 18/11/2025: định lượng Ethanol (cồn) dưới ngưỡng phát hiện, âm tính với ma tuý.

Bản kết luận định giá tài sản số 01 ngày 21/01/2026 của Hội đồng định giá tài sản phường V, tỉnh Quảng Ninh kết luận: xác định giá trị những bộ phận bị hư hỏng do vụ tai nạn giao thông gây ra của chiếc xe mô tô biển số 34M8 – 2721 là 3.400.000 đồng.

Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường và 02 video thu giữ trong quá trình khám nghiệm (không bị cắt ghép chỉnh sửa, theo Bản kết luận giám định số 1963 ngày 24/12/2025 của Phòng K1, Công an tỉnh Q), tiến hành thực nghiệm khả năng quan sát của Bùi Xuân T đối với xe mô tô: bố trí 02 phương tiện tại vị trí tương ứng thời điểm xe ô tô bắt đầu xuất hiện, thời điểm đầu xe ô tô ngang đầu xe mô tô, thời điểm khi xe ô tô bắt đầu chuyển hướng rẽ phải về phía ngã ba H, kết quả: cho T và một người khác thay nhau ngồi tại vị trí ghế lái xe ô tô biển số 14H- 100.65, cả hai đều quan sát được xe mô tô qua gương cầu lồi phía trên bên phải kính chắn gió trước.

* Quá trình điều tra, Bùi Xuân T khai nhận toàn bộ nội dung như đã nêu trên. Ngoài ra còn khai: tai nạn xảy ra tại khu vực đường quốc lộ 279 và ngay đầu lối rẽ đi ngã ba H, đường rộng, tầm quan sát tốt, mặt đường bê tông nhựa. Trước khi chuyển hướng rẽ phải bị cáo có quan sát gương chiếu hậu bên phải nhưng chủ quan không nhìn gương cầu lồi phía trên bên phải của kính chắn gió nên không đảm bảo an toàn đã gây tai nạn. Xe ô tô biển số 14H – 10065 là của Công ty TNHH MTV Đ, tại thời điểm xảy ra tai nạn xe hoạt động bình thường, tình trạng kỹ thuật an toàn của xe được đảm bảo.

* Người làm chứng anh Đồng Bá P1 có lời khai tại cơ quan điều tra về việc: xe mô tô biển số 34M8 – 2721 do ông Đồng Bá P điều khiển đã được anh bán cho ông P, nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Anh P1 xác nhận chiếc xe trên đã là tài sản hợp pháp của ông P, anh không còn bất cứ quyền lợi gì đối với chiếc xe nữa.

* Quá trình điều tra và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đại diện bị hại – anh Đồng Tuấn A trình bày: sự việc tai nạn xảy ra là rủi ro, ngoài ý muốn. Gia đình anh đã được bị cáo đã bồi thường số tiền 380.000.000 đồng bao gồm: tiền mai táng, tiền sửa chữa xe mô tô biển số 34M8 – 2721 và các loại các chi phí khác. Đến nay, đại diện gia đình bị hại không đề nghị bị cáo phải bồi thường thêm bất cứ số tiền nào, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Bản Cáo trạng số: 54/CT-VKSQNH - KV1 ngày 11/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Quảng Ninh đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát giữ quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

+ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường V, tỉnh Quảng Ninh và gia đình có trách nhiệm phối hợp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đề nghị hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo

+ Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 380.000.000 đồng. Đại diện bị hại là anh Đồng Tuấn A không có yêu cầu gì khác nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

+ Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: trả lại bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng C mang tên Bùi Xuân T.

* Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV Đ – ông Trần Đại D có lời khai tại phiên toà thể hiện: xe ô tô biển số 14H – 10065 là tài sản đăng ký đứng tên Công ty TNHH MTV Đ, được cấp giấy kiểm định vào ngày 10/9/2025. Sau khi được phép lưu thông, Công ty có thuê Bùi Xuân T lái xe, đồng thời quản lý xe, có hợp đồng lao động. Trong hợp đồng quy định rõ việc lái xe phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông. Sau khi gây tai nạn, bị cáo có thông báo cho đại diện công ty được biết, xe ô tô của Công ty không bị hư hỏng, thiệt hại gì lớn, chỉ chầy xước. Quá trình điều tra, Công ty có hỗ trợ bị cáo một khoản tiền (100 triệu đồng) để bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại, Công ty xem xét hoàn cảnh khó khăn của gia đình bị cáo nên tự nguyện hỗ trợ cho bị cáo mà không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại bất cứ số tiền nào cho Công ty, cũng như không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho xe ô tô ô tô biển số 14H – 10065.

* Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo không tranh luận với Luận tội của Kiểm sát viên, công nhận quyết định truy tố là đúng người, đúng tội. Lời nói sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt cho bị cáo như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị để bị cáo có cơ hội cải tạo, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về việc xét xử vắng mặt: đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người trên là có căn cứ.

Về tội danh: lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp Biên bản khám nghiệm phương tiện, Bản ảnh khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, Bản Kết luận giám định số 2001 ngày 26/12/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, Bản Kết luận giám định tử thi số 1776 ngày 26/11/2025 của Phòng K1, Công an tỉnh Q, các Biên bản làm việc, Video kết quả trích xuất dữ liệu camera và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ của vụ án, Hội đồng xét xử kết luận: khoảng 12 giờ 05 phút ngày 18/11/2025, tại đoạn đường Q, thuộc tổ A, khu G, phường V, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Xuân T điều khiển xe ô tô tải biển số 14H- 100.65 chuyển hướng không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn, đâm vào xe mô tô biển số 34M8 - 2721 do ông Đồng Bá P điều khiển đi cùng chiều. Hậu quả: làm ông P tử vong do sốc đa chấn thương.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, xâm phạm sự hoạt động bình thường của các phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà còn xâm phạm đến sức khoẻ, tính mạng và tài sản của người khác. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, được học tập và được cấp bằng lái xe theo quy định, hiểu được các quy tắc về an toàn khi tham gia giao thông nhưng đã không chấp hành đúng quy định, điều khiển xe chuyển hướng không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn là vi phạm quy định tại Điều 15 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ năm 2024, gây hậu quả chết người nên đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự như Đại diện Viện kiểm sát kết luận tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, đại diện bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có bố đẻ là ông Bùi Văn T1 được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội với lỗi vô ý. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành tốt các quy định tại nơi cư trú, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, bản thân là lao động chính trong gia đình. Quá trình điều tra, đại diện gia đình bị hại có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Quá trình xét xử có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo ngoài xã hội, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: đại diện gia đình bị hại – anh Đồng Tuấn A xác nhận bị cáo đã bồi thường số tiền 380.000.000 đồng về thiệt hại tính mạng, thiệt hại tài sản của xe mô tô biển số 34M8 – 2721, đến nay gia đình bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Công ty TNHH MTV Đ trình bày đã hỗ trợ bị cáo số tiền 100.000.000 đồng cho bị cáo để bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại, xe ô tô biển số 14H- 100.65 của Công ty giao cho bị cáo điều khiển chỉ chầy xước nhẹ, thiệt hại không đáng kể. Đại diện Công ty có quan điểm không đề nghị bị cáo phải trả lại số tiền đã hỗ trợ bị cáo, cũng không yêu cầu bồi thường thiệt hại xe ô tô nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về xử lý tài sản, vật chứng vụ án:

Xe ô tô biển số 14H – 100.65, là tài sản Công ty TNHH MTV Đ; xe mô tô biển số 34M8 – 2721, là tài sản của ông Đồng Bá P. Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho ông D – là đại diện theo pháp luật của Công ty Đ và đại diện gia đình bị hại là anh Đồng Tuấn A - con trai của ông P nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Trả cho bị cáo 01 giấy phép lái xe mang tên Bùi Xuân T.

Về biện pháp ngăn chặn: Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nhưng cho hưởng án treo nên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử thấy đề nghị này phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Các vấn đề khác: bị hại Đồng Bá P điều khiển xe mô tô tham gia giao thông trong tình trạng cơ thể có nồng độ cồn vi phạm khoản 2 Điều 9 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ năm 2024, không phải nguyên nhân của vụ tai nạn, ông P đã tử vong nên không đề cập xử lý.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm;

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Bùi Xuân T 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Bùi Xuân T cho Ủy ban nhân dân phường V, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 63/2026/LCĐKNCT -TA ngày 16/3/2026 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Quảng Ninh đối với bị cáo Bùi Xuân T.

2. Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự

Trả bị cáo 01 Giấy phép lái xe số/No: 220014000243 hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Y cấp ngày 14/12/2023 mang tên Bùi Xuân T.

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

- Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Xuân T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: bị cáo, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ