- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa Phạm Thị Cẩm N - Lê Văn K"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Cẩm N. Xử cho chị Phạm Thị Cẩm N được ly hôn với anh Lê Văn K.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:91/2026/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 5 - 2026 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Xuân Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Lê Văn Bình
Bà: Phạm Thị Châu
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân, khu vực 10 - TH.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - TH tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuấn - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân, Khu vực 10 - TH xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 64/2026/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2026/QĐXXST- HNGĐ, ngày 28 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số: 1011/2026/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự;
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Cẩm N, sinh năm: 2002
Số CCCD: xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: Thôn NX, xã TL, tỉnh TH.
- Bị đơn: Anh Lê Văn K, sinh năm 1998
Số CCCD: xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: Thôn NX, xã TL, tỉnh TH.
Tại phiên toà vắng mặt chị N, vắng mặt anh K, chị Phạm Thị Cẩm N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Lê Văn K vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị Cẩm N trình bày: Chị và anh Lê Văn K tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 27/4/2020 tại UBND xã QT, huyện NL (Nay là xã TL)), tỉnh TH. Sau khi kết hôn được một năm thì chị phát hiện anh Lê Văn K bị nghiện ma túy, năm 2022 anh K bị xã đưa đi cải tạo nhưng không cai được ma túy, trong cuộc sống hôn nhân thường xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống gia đình không hòa hợp, dẫn đến cãi vã to tiếng và xúc phạm lẫn nhau, khi mâu thuẫn xảy ra đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, từ tháng 5 năm 2024 cho đến nay chị và anh K sống ly thân nhau, không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa. Nay chị xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn K.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh K có 02 con chung là cháu Lê Thị Kim N; sinh ngày 02/8/2020 và Lê Thị Kim N; sinh ngày 02/8/2020. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết giao cả hai con chung Lê Thị Kim N và Lê Thị Kim N cho chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên, chị không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Cẩm N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Lê Văn K để làm bản tự khai, trình bày ý kiến về những nội dung yêu cầu khởi kiện của chị N nhưng anh K không có mặt nên không có lời khai của anh K và các bên không thống nhất được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - TH phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lê Văn K không thự hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, 35, 39 khoản 4 Điều 147, 227, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Nghị Quyết số: 01/2024/ NQHĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử cho chị Phạm Thị Cẩm N được ly hôn với anh Lê Văn K, vợ chồng có 02 con chung Lê Kim Thị N; sinh ngày 02/8/2020 và Lê Thị Kim N; sinh ngày 02/8/2020. Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao cháu hai con Lê Kim Thị N và Lê Thị Kim N cho chị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đến tuổi thành niên. Anh Lê Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Lê Văn K được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cấm, cản trở. Chị N phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
Về tố tụng:
Chị Phạm Thị Cẩm N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lê Văn K. Theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - TH.
Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh Lê Văn K không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh K theo quy định tại khoản 3 Điều 210 BLTTDS.
Anh Lê Văn K đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải nhưng anh K không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 BLTTDS.
Toà án cũng đã triệu tập hợp lệ anh Lê Văn K lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên toà nhưng anh K vẫn không có mặt mà không có lý do. Chị Phạm Thị Cẩm N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ quy định vào các Điều 227, Điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt chị N và anh K.
Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Cẩm N và anh Lê Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 27/4/2020 tại UBND xã TL, tỉnh TH, như vậy đây là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do anh K bị nghiện ma túy, mặc dù đã được đưa đi cải tạo cai nghiện nhưng không có kết quả, do đó trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng thường bất đồng về quan điểm sống, hay xảy ra cãi vã dẫn đến cuộc sống chung không có hạnh phúc, Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2024 cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa, việc này cũng phù hợp với nội dung Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân mà Tòa án đã tiến hành thu thập. Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập anh K lên làm việc để anh K được bày tỏ quan điểm, ý kiến và nguyện vọng của mình nhưng anh K đều không có mặt, thể hiện anh K có ý bỏ mặc, không thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng. Cho đến thời điểm hiện tại chị N vẫn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa chị N và anh K đã lâm vào tình trạng bế tắc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Phạm Thị Cẩm N được ly hôn với anh Lê Văn K.
Về con chung: Chị Phạm Thị Cẩm N và anh Lê Văn K có 02 con chung Lê Thị Kim N; sinh ngày 02/8/2020 và Lê Thị Kim N; sinh ngày 02/8/2020. Từ khi vợ chồng sống ly thân hai cháu đang ở ổn định với chị N, ly hôn chị N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu cho đến tuổi thành niên. Để không bị xáo trộn cuộc sống và đảm bảo sự phát triển bình thường về mọi mặt của con, HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị N, giao hai cháu Lê Thị Kim N và Lê Thị Kim N cho chị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền được đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Mặc dù đã được Tòa án giải thích về quyền và nghĩa vụ của người trực tiếp nuôi con, có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, tuy nhiên chị Phạm Thị Cẩm N xác định chị đủ điều kiện để nuôi các con mà không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của đương sự, anh Lê Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Cẩm N không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Lê Văn K không trình bày ý kiến về phần tài sản, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Phạm Thị Cẩm N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39; Điều 147, Điều 227, 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 1 của Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản.
Căn cứ Điều 51; 56; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị Quyết số: 01/2024/ NQHĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Căn cứ: Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Cẩm N. Xử cho chị Phạm Thị Cẩm N được ly hôn với anh Lê Văn K.
2. Về con chung: Giao hai cháu Lê Thị Kim N; sinh ngày 02/8/2020 và Lê Thị Kim N; sinh ngày 02/8/2020 cho chị Phạm Thị Cẩm N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên.
Anh Lê Văn K được quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lê Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về án phí: Chị Phạm Thị Cẩm N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: 0001490 ngày 03 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh TH, chị Phạm Thị Cẩm N đã nộp đủ án phí.
Quyền kháng cáo. Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị N và anh K. Chị Phạm Thị Cẩm N và anh Lê Văn K được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TH; - VKSND khu vực 10 - TH; - THADS tỉnh TH; - Các đương sự; - UBND xã TL, tỉnh TH; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Phạm Thị Châu Lê Văn Bình | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Xuân Thành THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Xuân Thành |