vanban.org

Bản án 91/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "T A phạm tội giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁI THỤY
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2025/HS-ST
Ngày 19 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Tiến và bà Phạm Hồng Thiêm.

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hảo - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Long - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 85/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2025/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Vũ Tuấn A, sinh ngày 12/9/19xx; nơi cư trú: thôn T, xã G, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình; số căn cước công dân: 034093006396 nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Thế Át, sinh năm 1964 và Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1973; có vợ là Phạm Thị Thuỷ, sinh năm 1999 và 01 con sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

*. Người đại diện hợp pháp của bị hại (bị hại là bà Hoàng Thị M đã chết).

- Ông Phạm Phúc T1, sinh năm 1967 (Là chồng bà M) (Vắng mặt)

- Anh Phạm Phú T2, sinh năm 1992 (Là con bà M) (Có mặt)

- Anh Phạm Phú C, sinh năm 1997 (Là con bà M)(Vắng mặt)

Đều có địa chỉ: thôn N, xã G1, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình.

Anh Phạm Phú Thành đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông Thuần và anh Chung.

* Người làm chứng:

- Chị Phạm Thị Th, sinh năm 1999 (có mặt)

Địa chỉ: thôn T, xã G, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

- Anh Bùi Đình H, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn N, xã G1, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/02/2025, Vũ Tuấn A, có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, sơn màu trắng đen, biển kiểm soát 17B7-375.71 chở phía sau là chị Phạm Thị Thuỷ và cháu Vũ Thị Thuỳ Trang (là vợ và con của Tuấn A) đi trên đường ĐT457, theo hướng từ huyện Đông Hưng đi huyện Kiến Xương. Khi đi đến km2+100, thuộc địa phận thôn Đoài, xã G1, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, là đoạn đường thẳng hai chiều, tầm nhìn không bị hạn chế, mặt đường xe chạy được trải nhựa apphan, bằng phẳng rộng 7,0m, trên mặt đường không có vạch sơn phân chia chiều đường, tiếp giáp với mặt đường xe chạy về hai phía là lề cỏ rộng 1,5m, tiếp giáp với lề cỏ về hai phía là khu vực cánh đồng. Do trời tối, tầm nhìn bị hạn chế Vũ Tuấn A không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn; không chấp hành quy định về giữ một khoảng cách an toàn với người đi xe đạp phía trước cùng làn đường, nên phần đầu, tay lái bên phải xe mô tô, đâm va vào phía sau xe đạp do bà Hoàng Thị M điều kiển. Hậu quả làm bà M bị thương, cấp cứu tại bệnh viện, đến 07 giờ ngày 02/02/2025 thi tử vong tại gia đình. Bị cáo và vợ con bị cáo không bị thương, xe mô tô và xe đạp bị hư hỏng nhẹ.

Bản kết luận giám định tử thi số 122/KLGĐTT-KTHS ngày 19/02/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình kết luận nạn nhân Hoàng Thị M bị vỡ xương sọ vùng thái dương bên phải, chảy máu não chết do chấn thương sọ não. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Bản cáo trạng số 95/CT-VKSTT ngày 05/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Vũ Tuấn A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện hợp pháp của bị hại xác nhận đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại với bị cáo, nhận đủ số tiền 120.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường bất kỳ khoản tiền nào khác, sự việc xảy ra là ngoài ý muốn của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Về tội danh: Bị cáo Vũ Tuấn A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65; Điều 50 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Tuấn A từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm kể từ ngày tuyên án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí.

Bị cáo, đại diện bị hại đều không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tố tụng, của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền,trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến đề nghị, khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/02/2025, tại km2+100 đường ĐT 457 thuộc địa phận thôn Đoài, xã G1, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Đây là đoạn đường thẳng hai chiều, tầm nhìn không bị hạn chế, Vũ Tuấn A điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17B7 – 375.71, có giấy phép lái xe hợp lệ, chở sau là chị Phạm Thị Thuỷ và cháu Vũ Thị Thuỳ Trang (là vợ, con của Tuấn A) theo hướng từ huyện Đông Hưng đi huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Do trời tối, tầm quan sát bị hạn chế không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn; không giữ khoảng cách an toàn với người đi xe đạp phía trước cùng làn đường, nên phần đầu và tay lái bên phải xe mô tô do Tuấn A điều khiển đã đâm va vào vào phía sau xe đạp do bà Hoàng Thị M điều khiển. Hậu quả: bà M được mọi người đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình, đến 07 giờ ngày 02/02/2025 bà M tử vong tại gia đình do chấn thương sọ não. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Tuấn A đã vi phạm khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ, hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 11 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, gây hậu quả làm chết 01 người. Hành vi đó đã cấu thành tội phạm “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ quy định:

Điều 12. Chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe

1 .Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải chấp hành quy định về tốc độ, khoảng cách an toàn tối thiểu với xe phía trước cùng làn đường hoặc phần đường.

…

3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong các trường hợp sau đây:

a) …

c) Chuyển hướng xe chạy hoặc tầm nhìn bị hạn chế;

Thông tư 31/2019/TT- BGTVT ngày 29/8/2019 quy định:

Điều 11. Khoảng cách an toàn giữa hai xe khi tham gia giao thông trên đường

1.

2. Khoảng cách an toàn giữa hai xe khi tham gia giao thông trên đường

a) Trong điều kiện mặt đường khô ráo, khoảng cách an toàn ứng với mỗi tốc độ được quy định như sau:

Khi điều khiển xe chạy với tốc độ dưới 60 km/h, người lái xe phải chủ động giữ khoảng cách an toàn phù hợp với xe chạy liền trước xe của mình; khoảng cách này tùy thuộc vào mật độ phương tiện, tình hình giao thông thực tế để đảm bảo an toàn giao thông.

Điều 260 Bộ luật Hình sự: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm…

a) Làm chết người.

……………………

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại; gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có ông nội là Liệt sỹ nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ trên địa bàn huyện. Do đó cần phải quyết định 01 hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi bị cáo gây ra. Tuy nhiên, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Mặt khác, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có công việc ổn định, có khả năng tự cải tạo bản thân nên cần cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa vi phạm chung. Bị cáo không hành nghề lái xe nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, sơn màu đen trắng, biển kiểm soát 17B7 – 375.71 quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là chị Phạm Thị Thuỷ, vợ bị cáo Vũ Tuấn A; chiếc xe đạp không rõ nhãn hiệu, màu trắng bạc là của bà Hoàng Thị M nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Phạm Thị Thuỷ và đại diện bị hại anh Phạm Phú Thành 02 phương tiện nêu trên là phù hợp. Tại phiên tòa trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 340181003435 do Sở giao thông vận tải Thái Bình cấp ngày 18/8/2019.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Vũ Tuấn A đã thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại 120.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường. Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm bất cứ khoản chi phí nào khác nên cần ghi nhận việc bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và gia đình bị hại.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong phần dân sự trong quá trình điều tra nên bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Tuấn A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Tuấn A 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/6/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Giao bị cáo Vũ Tuấn A cho Uỷ ban nhân dân xã G, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 591 Bộ luật Dân sự ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và đại diện gia đình bị hại. Bị cáo bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000 đồng (Bị cáo đã bồi thường xong).

4. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tại phiên tòa trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 340181003435 do Sở giao thông vận tải Thái Bình cấp ngày 18/8/2019.

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Vũ Tuấn A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 19/6/2025. Nơi nhận:

Cỡ chữ