- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Quý - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: tuyên bố bị cáo Lò Văn Q (tên gọi khác: Lò Văn Th) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2025/HS-ST Ngày: 21 - 11 - 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lại Xuân Cảnh;
Các Hội thẩm nhân dân: ông Đinh Tuấn Anh và ông Nguyễn Duy Vĩnh.
- Thư ký phiên tòa: bà Nhiếp Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 89/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
- Lò Văn Q (tên gọi khác: Lò Văn Th), sinh năm 2005; nơi thường trú: bản NNg, xã NM, tỉnh Lai Châu; nơi ở: tổ dân phố T, phường PL, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Khơ Mú; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn O và bà Lò Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/8/2025 đến ngày 14/8/2025 chuyển tạm giam, hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Ninh Bình, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Thị Hải Y - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Ninh Bình; có mặt.
- Người làm chứng: ông Bạch Văn Q1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 05/8/2025, Tổ công tác Công an phường HN, tỉnh Ninh Bình làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên địa bàn, thì phát hiện Lò Văn Q đang đứng trên vỉa hè đường Nguyễn An Ninh thuộc Tổ 3, phường HN, tỉnh Ninh Bình, có biểu hiện nghi vấn, nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Q đã tự nguyện lấy trong túi quần bên phải phía trước ra giao nộp 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa 04 viên nén hình tròn màu đỏ (Q khai nhận là ma túy ngựa, cất giữ với mục đích để sử dụng). Lực lượng Công an đã đưa Q cùng vật chứng về trụ sở lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định.
* Vật chứng thu giữ, gồm: thu trong túi quần bên phải phía trước của Q đang mặc 01 (một) gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa 04 (bốn) viên nén hình tròn màu đỏ, khối lượng 0,37 gam, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.
Tiến hành test nhanh chất ma tuý trong cơ thể của Lò Văn Q, kết quả: Âm tính. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lò Văn Q tại tổ dân phố T, phường PL, tỉnh Ninh Bình, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình không thu giữ gì.
Ngày 05/8/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình ban hành Quyết định trưng cầu giám định, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình giám định mẫu vật niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01. Tại bản Kết luận giám định số 322/KL-KTHS ngày 11 tháng 8 năm 2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:
“- 03 (ba) viên nén hình tròn màu đỏ trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,285g (không phẩy hai trăm tám mươi lăm gam) loại: Methamphetamine.
- 01 (một) viên nén hình tròn màu xanh có bám dính chất màu đỏ trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định không tìm thấy chất ma túy, có khối lượng 0,085g (không phẩy không trăm tám mươi lăm gam)”.
Quá trình điều tra, Lò Văn Q khai nhận: khoảng 04 giờ sáng ngày 05/8/2025, Q đi bộ từ khu nhà trọ tại tổ dân phố T, phường PL, tỉnh Ninh Bình ra đường dân sinh trước cửa khu trọ để xem có chỗ nào có wifi không. Tại đây, có 01 nam thanh niên không quen biết, điều khiển xe mô tô WAVE màu trắng, không biển kiểm soát, đến bắt chuyện và hỏi Q: “Mày có chơi đồ không?”. Hiểu ý nam thanh niên hỏi Q có sử dụng ma túy không, nên Q trả lời: “Em có, em chỉ chơi hàng trắng thôi”, nam thanh niên nói: “Chỉ có ngựa thôi, có chơi không?”, Q đồng ý. Sau đó, nam thanh niên chở Q đi mua ma túy. Đi được khoảng 10 phút, thì nam thanh niên bảo Q xuống xe đợi (Q không xác định được địa điểm). Nam thanh niên điều khiển xe mô tô rời đi, khoảng 15 phút sau quay lại đưa cho Q 01 gói giấy bạc màu vàng. Q mở ra xem, thấy bên trong có chứa 04 viên nén hình tròn màu đỏ, biết đó là ma túy dạng ngựa, Q cất giấu vào túi quần bên phải phía trước đang mặc, rồi lên xe mô tô của nam thanh niên chở đi tìm chỗ sử dụng. Khi nam thanh niên chở Q đến đường Nguyễn An Ninh thuộc Tổ 3, phường HN, tỉnh Ninh Bình, thì bảo Q xuống xe để đi mua nước. Sau khi nam thanh niên rời đi được một lúc, thì lực lượng Công an phường HN đi tuần tra phát hiện, bắt quả tang.
Tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKS-KV5 ngày 23/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã truy tố Lò Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Lò Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự - xử phạt bị cáo Lò Văn Q từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (05/8/2025); hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự - tịch thu, tiêu hủy số ma túy và viên nén màu xanh có bám dính chất màu đỏ cùng bao gói mẫu vật hoàn trả sau giám định.
- Bị cáo Lò Văn Q đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất của khung hình phạt là 03 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc giải quyết vụ án; nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, Lò Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, bản Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: khoảng 4 giờ 30 phút ngày 05/8/2025, tại đường Nguyễn An Ninh thuộc Tổ 3, phường HN, tỉnh Ninh Bình, Công an phường HN phát hiện, bắt quả tang Lò Văn Q đang tàng trữ trái phép 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa 03 viên nén hình tròn màu đỏ (là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,285 gam) và 01 viên nén hình tròn màu xanh có bám dính chất màu đỏ (có khối lượng 0,085 gam, không phải là ma túy nhưng Q nghĩ đó là ma túy) với mục đích để sử dụng.
Hành vi tàng trữ trái phép Methamphetamine của Lò Văn Q là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tàng trữ Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. Hội đồng xét xử kết luận: hành vi của Lò Văn Q đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình truy tố đối với Lò Văn Q là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt.
- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: xét thấy, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định; nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: đối với số ma túy Methamphetamine hoàn trả sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 viên nén hình tròn màu xanh, có bám dính chất màu đỏ hoàn trả sau giám định, không có giá trị sử dụng; nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Về nguồn gốc số ma túy và người bán ma túy cho Lò Văn Q: Q khai nhận được một nam thanh niên không quen biết, có dáng người to béo, cao khoảng 1m60, điều khiển xe mô tô WAVE màu trắng, không biển kiểm soát đến rủ và chở đi mua ma túy. Tuy nhiên, do trời tối nên Q không nhìn rõ và nhớ đặc điểm khuôn mặt. Công an phường HN đã tiến hành rà soát camera an ninh và rà soát đối tượng, nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch người này. Ngoài lời khai của Q thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác, nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 và điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 293, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
1. Về hình sự: tuyên bố bị cáo Lò Văn Q (tên gọi khác: Lò Văn Th) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn Q (tên gọi khác: Lò Văn Th) 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (05/8/2025).
- Hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Lò Văn Q (tên gọi khác: Lò Văn Th).
2. Xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy số ma túy Methamphetamine và viên nén màu xanh có bám dính chất màu đỏ hoàn trả sau giám định, trong phong bì niêm phong số 322/KTHS (chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 27/10/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5, tỉnh Ninh Bình).
3. Án phí: bị cáo Lò Văn Q (tên gọi khác: Lò Văn Th) phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực 5 - Ninh Bình; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Ninh Bình; - THADS tỉnh Ninh Bình; - Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Ninh Bình; - Cổng Thông tin điện tử của Tòa án; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lại Xuân Cảnh |