- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nguyên đơn: ông Phạm Huỳnh Ngọc T - bị đơn: : bà Nguyễn Thị Ngọc N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Huỳnh Ngọc T đối với chị Nguyễn Thị Ngọc N về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 91/2025/HNGĐ-ST Ngày: 03-9-2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thu Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân
2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hồng Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 323/2025/TLST-HNGĐ ngày 11/6/2025, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 35/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Phạm Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1992; địa chỉ: 5 B, tổ dân phố G, khu phố D, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: bà Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1987; địa chỉ: số I, khu phố N, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Phạm Huỳnh Ngọc T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị Nguyễn Thị Ngọc N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 06/2014 ngày 19/2/2014. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 02 con chung, sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn ngày một trầm trọng không thể sống hòa thuận và hạnh phúc được nữa, chính vì thế vợ chồng đã ly thân với nhau từ cuối năm 2020 cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính nhau, không hiểu nhau, luôn bất đồng trong quan điểm sống dẫn đến thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn khiến cho cuộc sống không được hòa hợp và hạnh phúc. Anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàng gắn được, cuộc sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị N.
Về con chung: Quá trình sống chung, vợ chồng có 02 con chung tên Phạm Nguyễn Thiên K, sinh ngày 11/5/2014 và cháu Phạm Hoàng Gia B, sinh ngày 23/3/2018. Khi ly hôn, anh T yêu cầu nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu chị N thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn không có mặt tại Toà án để có ý kiến, hoặc nộp văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nộp các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Đồng thời, vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình tố tụng.
Tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng, đồng thời giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện; bị đơn được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt.
Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án niêm yết hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con của nguyên đơn là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Phạm Huỳnh Ngọc T khởi kiện tranh chấp ly hôn đối với chị Nguyễn Thị Ngọc N. Theo kết quả xác minh của Công an phường Đ, thì chị N có hộ khẩu thường trú và hiện tại không còn sinh sống tại số I, khu phố N, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh. Do không cung cấp được địa chỉ cư trú mới của bị đơn nên nguyên đơn có quyền yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú cuối cùng giải quyết. Căn cứ các Điều: 28, 35, 40 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Về sự có mặt của các đương sự tại phiên tòa: Tại phiên tòa sơ thẩm, anh T có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Chị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị N theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, các Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. Chị N đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa án tham gia tố tụng nên chị N phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều luật trên.
Về nội dung: Anh Phạm Huỳnh Ngọc T và chị Nguyễn Thị Ngọc N tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh) theo giấy chứng nhận kết hôn số 06/2014 ngày 19/2/2014 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Về quan hệ hôn nhân: Thấy rằng, tại khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định như sau: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Vợ chồng có nghĩa vụ chung sống với nhau, có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Anh T và chị N không còn sống chung với nhau và phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã, bị đơn cũng không có sự chăm sóc, giúp đỡ, chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Nhận thấy hôn nhân giữa anh T và chị N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh T được ly hôn với chị N theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Quá trình sống chung, vợ chồng có 02 con chung tên Phạm Nguyễn Thiên K, sinh ngày 11/5/2014 và cháu Phạm Hoàng Gia B, sinh ngày 23/3/2018. Khi ly hôn, anh T yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung. Xét yêu cầu của anh T thấy rằng: Việc quyết định giao con cho người cha hoặc người mẹ nuôi dưỡng sau khi ly hôn cần phải dựa trên quyền lợi về mọi mặt của người con, về điều kiện trông nom chăm sóc. Nguyện vọng của cháu Phạm Nguyễn Thiên K và cháu Phạm Hoàng Gia B là muốn được sống cùng với anh T. Hơn nữa, sau khi anh T và chị N sống ly thân thì anh T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung, do đó để đảm bảo quyền lợi của hai cháu và tránh làm xáo trộn cuộc sống ổn định của các cháu, cần giao cháu Thiên K và Gia B cho anh T nuôi dưỡng, phù hợp khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T không yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn.
Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí: Anh T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà về nội dung vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều: 28, 35, 36, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều: 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Huỳnh Ngọc T đối với chị Nguyễn Thị Ngọc N về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Huỳnh Ngọc T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc N.
- Về con chung: Giao con chung tên Phạm Nguyễn Thiên K, sinh ngày 11/5/2014 và Phạm Hoàng Gia B, sinh ngày 23/3/2018 cho anh Phạm Huỳnh Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Ghi nhận sự tự nguyện của anh Phạm Huỳnh Ngọc T không yêu cầu chị Nguyễn Thị Ngọc N cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Phạm Huỳnh Ngọc T không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Phạm Huỳnh Ngọc T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng mà anh T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0008498 ngày 06/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 16 - TP. Hồ Chí Minh; - THADS Thành phố Hồ Chí Minh; - Phòng THADS khu vực 16 - TP. Hồ Chí Minh; - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đào Thị Thu Vân |