- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vì Thị I - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vì Thị I Tên gọi khác: Quàng Thị I phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN _________ Bản án số: 91/2024/HS - ST Ngày 28 - 3 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đặng Thị Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bạc Thị Kiên
Bà Lò Thị Ánh Ngọc
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thúy Dần - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phùng Cẩm Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vì Thị I. Tên gọi khác: Quàng Thị I. Sinh năm 1966
Tại: Điện Biên
Nơi cư trú: Bản Nà Ngum, xã Thanh Yên, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: không; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vì Văn D (đã chết) và con bà Vì Thị S (đã chết): Chồng: Quàng Văn P (đã chết). Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1983, con nhỏ nhất sinh năm 1987. Tiền án; tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị xử lý hành chính. Ngày 18 tháng 12 năm 2006 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 25/9/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên phủ xử phạt 03 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 08/12/2023 đến ngày xét xử. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 08/12/2023, Vì Thị I đi bộ từ nhà đến khu vực đầu bản Nà Ngum, xã Thanh Yên, huyện Điện Biên. Tại đây, I gặp và mua được của một người phụ nữ (I không biết tên và địa chỉ) 02 gói Heroine với giá 200.000 đồng, mục đích để chữa bệnh cho gà. Mua xong, I cầm gói ma túy đi bộ về nhà. Hồi 12 giờ 15 phút cùng ngày khi I đang đứng ở sân nhà I thuộc bản Nà Ngum, xã Thanh Yên, huyện Điện Biên thì bị tổ công tác Công an huyện Điện Biên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại tay phải I đang cầm 02 gói nilon màu hồng bên trong có chứa Heroine.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và niêm phong vật chứng gửi giám định ngày 08/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên và bản Kết luận giám định số 13/KL - KTHS ngày 15/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Vì Thị I là 0,73 gam. Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Vì Thị I gửi giám định là chất ma tuý: Loại Heroine.
Tại bản Cáo trạng số 40/CT-VKHSĐB ngày 08/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố bị cáo Vì Thị I về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vì Thị I từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,73 gam Heroine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,67 gam sau khi giám định). Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 12 giờ 15 phút ngày 08/12/2023, tại sân nhà bị cáo Vì Thị I thuộc bản Nà Ngum, xã Thanh Yên, huyện Điện Biên. Tổ công tác Công an huyện Điện Biên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại tay phải của bị cáo I đang cầm 02 gói nilon màu hồng bên trong nghi Heroine.
Qua cân xác định khối lượng và Kết luận giám định đã xác định, vật chứng thu giữ của bị cáo là Heroine có khối lượng 0,73 gam. Bị cáo khai mục đích cất giấu Heroine là để làm thuốc chữa bệnh cho gia cầm mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện tội phạm do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đơn giản, chỉ do đã đi mua ma túy để chữa bệnh cho gia cầm mà không có mục đích nào khác. Tuy nhiên, hành vi đó của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn trong xã hội.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân và lý lịch của bị cáo:
Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Điện Biên. Ngày 18 tháng 12 năm 2006 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ngày 25/6/2011, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Ngày 25/9/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xử phạt 03 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ngày 16/12/2015 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương và đã chấp hành xong các quyết định khác của cả hai bản án trên. Bị cáo đã được xóa án tích.
Tại các bản án hình sự sơ thẩm số 37/2006/HSST ngày 18/12/2006 của Toà án nhân dân huyện Điện Biên và Bản án HSST số 81/2013/HSST ngày 25/9/2013 của Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên đã xét xử bị cáo đều thể hiện bị cáo Vì Thị I có tên gọi là Quàng Thị I. Năm sinh của bị cáo tại bản án HSST số 81/2013/HSST ngày 25/9/2013 của Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên thể hiện bị cáo sinh năm 1965. Tuy nhiên trong bản sao giấy khai sinh; căn cước công dân và Thông báo số định danh cá nhân và thông tI công dân trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thể hiện bị cáo có tên gọi là Vì Thị I sinh năm 1966. Tại công năm số 09/CCCP-PV6 ngày 21/02/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã thể hiện "Kết quả tra cứu trong Hệ thống nhận dạng vân tay tự động (VAFIS) và Cơ sở dữ liệu quản lý thông tI nghiệp vụ do PV06 quản lý thể hiện: Vân tay trên danh chỉ bản số 000000308 ghi tên Vì Thị I sinh năm 1966, do Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên lập ngày 17/12/2023 đồng nhất với vân tay đối tượng trong cơ sở dữ liệu có thông tI lai lịch và tiền án, tiền sự: Vì Thị I sinh năm 1966. Công an huyện Điện Biên bắt, lập DCB số 000000195 ngày 28/08/2006 về việc Mua bán trái phép chất ma tuý. Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử 7 năm tù giam (án số 37/ST ngày 18/12/2006). Vì Thị I SN: 1965. Công An thành phố Điện Biên Phủ bắt, lập DCB số 000000039 ngày 23/04/2013 về việc Mua bán trái phép chất ma tuý. Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xử 3 năm tù giam (án số 81/ST ngày 25/09/2013).
Mặc dù tại lý lịch bị can, danh bản, chỉ bản của bị cáo do Công an huyện Điện Biên lập và các văn bản tố tụng đều thể hiện bị cáo không có tên gọi khác. Tuy nhiên bị cáo đã từng sử dụng tên gọi khác là Quàng Thị I trong cả 02 bản án đã có hiệu lực pháp luật. Vì vậy có đủ cơ sở xác định bị cáo Vì Thị I có tên gọi khác là Quàng Thị I và bị cáo sinh năm 1966 là chính xác.
Về tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ là ông Vì Văn Dọn được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" và tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự.
Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bản thân là phụ nữ đã lớn tuổi, mặc dù bị cáo có nhận thức được tác hại của ma tuý nhưng vẫn cố tình vi phạm nên cần phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự để bị cáo có điều kiện cải tạo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xong xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vật chứng: Gồm 0,73 gam Heroine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,67 gam sau khi giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần bị tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về vấn đề khác: Trong quá trình điều tra bị cáo đã khai nguồn gốc số ma túy bị cáo mua của một người phụ nữ, bị cáo không biết địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ được. Vì vậy HĐXX không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Vì Thị I Tên gọi khác: Quàng Thị I phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Vì Thị I (Quàng Thị I) 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (Ngày 08/12/2023).
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS
- Tịch thu tiêu huỷ 0,73 gam Heroine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,67 gam sau khi giám định)
Vật chứng đã được Công an huyện Điện Biên bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên ngày 08/3/2024.
4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/3/2024).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Điện Biên; - Bộ phận HSNV CA H.Điện Biên; - Công an huyện Điện Biên; - Nhà tạm giữ; - Bị cáo; - Chi cục T.H.A Dân sự H. Điện Biên; - Sở Tư pháp; - T.H.A HS; Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Thị Thùy Dương |