- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyên đơn: Ông Trần Mộng H, sinh năm 1977 và bà Phạm Thị Tuyết M, sinh năm 1975. Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Mộng H và bà Phạm Thị Tuyết M. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2023/DS-ST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Căn cứ chính? Điều 221 Bộ luật Dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2024/DS-PT Ngày: 02-4-2024 V/v “Tranh chấp đòi quyền SDĐ, huỷ Giấy CNQSDĐ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tiến
Các thẩm phán:
ông Trương Công Thi
bà Trần Thị Kim Liên
- Thư ký phiên tòa: bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Đinh Văn Chánh, Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hoà đã xét xử phúc thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án dân sự thụ lý số 326/TLPT-DS ngày 11 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và huỷ Giấy CNQSD đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2023/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hoà bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 439/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Mộng H, sinh năm 1977 và bà Phạm Thị Tuyết M, sinh năm 1975. Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Đều có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1965. Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ: Ông Phan Quang H1, Luật sư Công ty L1. Địa chỉ: H L, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân thành phố C. Địa chỉ: Đường P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc T - Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn P - Phó Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường thành phố C. Ông P vắng mặt.
2. Bà Huỳnh Thị A, sinh năm 1969. Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
3. Bà Trần Thị M1, sinh năm 1948. Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Trần Mộng H
Phạm Thị Tuyết M v ngư i đại diện theo y quy n c a nguyên đơn tr nh y:
Ông H, bà M là chủ sử dụng thửa đất số 250, tờ bản đ số 26, diện tích 140,1m2, tọa lạc tại tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền v i đất số CE 874770, số vào sổ cấp GCN: CH01753, do UBND thành phố C cấp ngày 02/01/2018 cho ông H, bà M.
Quá trình sử dụng đất, ông Nguyễn Minh Đ đã lấn chiếm khoảng 50m2 diện tích đất nêu trên của ông H, bà M. UBND phường B đã hòa giải giữa các bên nhưng không thành.
Vì vậy, ông H, bà M đề nghị Tòa án buộc ông Đ phải trả lại cho ông, bà diện tích đất đã lấn chiếm nêu trên.
ị đơn ông Nguyễn Minh Đ v ngư i đại diện theo y quy n c a ị đơn tr nh y:
Ông Nguyễn Minh Đ là chủ sử dụng thửa đất có diện tích khoảng 50m2 thuộc tờ bản đ địa chính số B, tại tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Thửa đất này có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất bà Huỳnh Thị P1, phía Tây giáp đất bà Phan Thị Kim O, phía Nam giáp đường đi chung, phía Bắc giáp đất bà Phạm Thị Tuyết M. Ngu n gốc thửa đất này là do ông Đ nhận chuyển nhượng t bà Trần Thị M1.
Hiện nay, thửa đất này đã bị bà Phạm Thị Tuyết M nhập chung v i thửa đất của bà M (tiếp giáp phía Bắc) và được UBND thành phố C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 01753 ngày 02/01/2018 cho bà M, ông H.
Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho ông H, bà M là trái v i quy định pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông Đ vì những lý do sau:
- Về ngu n g c đất: Thửa đất trên được gia đình bà Trần Thị M1 sử dụng để làm nghĩa trang gia đình. Trư c đây, trên đất có 09 ngôi mộ của gia đình bà M1, trong đó có ngôi mộ được chôn cất lâu nhất là t năm 1950. Hàng năm, bà M1 và con cháu lui đến quét dọn, hương khói, bảo quản mấy chục năm qua. Thửa đất có khuôn viên khép kín, rào bằng lư i thép B40, tr ng rào cây phân biệt v i tứ cận đất xung quanh.
Do thửa đất mộ này nằm ở vị trí ẩm thấp, tứ cận đều là nhà cửa sinh hoạt của các thửa đất liền kề nên bà M1 đã chuyển nhượng đất cho ông Đ v i giá 10 triệu đ ng; việc chuyển nhượng đất được lập thành hợp đ ng mua bán có chữ ký xác nhận của hai bên và những người làm chứng. Điều kiện chuyển nhượng là ông Đ phải mua đất nghĩa trang được Nhà nư c quy hoạch làm nơi chôn cất m i cho 09 ngôi mộ nêu trên và chịu toàn bộ chi phí di dời, xây dựng 09 ngôi mộ tại nghĩa trang m i. Ngày 27/4/2021, ông Đ đã hoàn thành việc di dời này.
Mặt khác, năm 2003, vợ ch ng ông Trần Mộng H và bà Phạm Thị Tuyết M nhận chuyển nhượng thửa đất của bà Phan Thị K không bao g m phần diện tích 50m2 đang tranh chấp này và bà K đã xác nhận diện tích đất chuyển nhượng cho ông H, bà M chỉ là 78 m2. Đ ng thời, bà M1 không có bất kỳ giao dịch mua bán, chuyển nhượng diện tích 50m2 nêu trên cho ông H, bà M.
Do đó, việc UBND thành phố C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H, bà M bao g m cả 50m2 diện tích đất tranh chấp của ông Đ là không đúng ngu n gốc đất.
- Về đ i t ng sử dụng đất:
T năm 1950 đến năm 2019, diện tích đất 50m2 tranh chấp này do gia đình bà Trần Thị M1 là người trực tiếp quản lý và sử dụng, không liên quan đến ông H, bà M.
Ngày 24/6/2021, UBND phường B tổ chức hòa giải giữa hai bên và Biên bản hòa giải đã ghi nhận việc UBND thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H, bà M v i diện tích đất 140,1m2 là không đúng diện tích thực tế và phần đất dư ra là phần đất mộ thân nhân của bà M1.
Do đó, UBND thành phố C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho vợ ch ng bà M v i diện tích 140,1m2 bao g m cả diện tích 50m2 đất của ông Đ là không đúng đối tượng sử dụng.
- Về tr nh t thủ tục cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất:
Khi lập h sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H, bà M, UBND thành phố C không thực hiện đúng thủ tục luật định, không cắm mốc khi đo đạc, không xác định ranh gi i tứ cận, không ký giáp ranh v i các chủ sử dụng đất liền kề là vi phạm quy định tại mục 1.1, khoản 1 và mục 2.4 khoản 2, Điều 11 của Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 09/5/2014 của Bộ T5.
Vì vậy, bị đơn ông Nguyễn Minh Đ không đ ng ý v i yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị Tòa án tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 01753 do UBND thành phố C cấp ngày 02/01/2018 cho ông Trần Mộng H, bà Phạm Thị Tuyết M.
Nh ng ngư i c quy n l i ngh a v liên quan tr nh y:
- à Trần Thị M1 và ng i đại di n theo ủy quyền của à M1 tr nh ày: Bà M1 thống nhất v i trình bày của bị đơn ông Nguyễn Minh Đ và đề nghị Tòa án tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 874770, số vào sổ cấp GCN: CH 01753 do UBND thành phố C cấp ngày 02/01/2018 cho ông Trần Mộng H, bà Phạm Thị Tuyết M đối v i thửa đất số 250, tờ bản đ số 26, tại tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
- à Huỳnh Thị A tr nh ày:
Năm 2019, bà Trần Thị M1 th a thuận v i bà và ch ng bà là Nguyễn Minh Đ để sang nhượng lại phần đất có 09 ngôi mộ, đổi lại vợ ch ng bà bốc 09 ngôi mộ vào nghĩa trang D, vợ ch ng đ ng ý. Bà M1 làm giấy cam kết, có chữ ký bà M1, con trai bà M1 và hàng xóm. Sau đó, vợ ch ng bà để phế liệu trên đất này.
Tháng 3/2021, vợ ch ng bà thuê ông Trần Đắc P2 bốc 09 ngôi mộ vào nghĩa trang D, xây mộ v i số tiền là 25 triệu đ ng và cho bà M1 10 triệu đ ng để mua trái cây, nhang đèn cúng. Ngu n gốc lô đất có 09 ngôi mộ này có t trư c khi vợ ch ng bà vào sinh sống và đất là của gia đình bà M1.
Còn phần đất có căn nhà của vợ ch ng ông H, bà M có ngu n gốc là đất ông Nguyễn K1, diện tích khoảng 80m2, là lô đất xéo, không vuông góc, diện tích nh dùng để chứa củi d a. Sau này, ông K1 cho con gái ở trên đất nhưng do trư c nhà có dãy mộ của nhà bà M1 nên gia đình con gái ông K1 không ở được và trả lại đất cho ông K1. Sau đó, ông K1 bán phần đất này cho bà Trần Thị K2. Bà K2 cất nhà sinh sống, được một thời gian thì bà K2 sang nhượng lại cho vợ ch ng ông H, bà M. Tại thời điểm vợ ch ng bà M nhận sang nhượng thì trư c lô đất của ông H, bà M đã có hàng rào làm ranh gi i giữa lô đất bà M và đất bà M1 c ng như có hàng rào ranh gi i v i đất nhà bà.
Sau khi vợ ch ng bà nhờ người bốc 09 ngôi mộ, cất mái tạm, cột kèo g để chứa phế liệu thì bà M gọi người vào giăng dây, đo đất. Hai bên xảy ra mâu thuẫn, bà M nói đất bà M mua có sổ đ , bà M không biết diện tích bao nhiêu.
Bà không đ ng ý v i yêu cầu khởi kiện của vợ ch ng bà M vì đất là của vợ ch ng bà nhận sang nhượng t bà Trần Thị M1.
- UBND thành phố C tr nh ày:
Ngày 10/12/2014, ông H và bà M nộp h sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền v i đất lần đầu (sau đây gọi tắt là giấy chứng nhận) theo Dự án Vlap đối v i thửa đất số 250, tờ bản đ số 26, diện tích đăng ký 140,1m2, mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, tọa lạc tại tổ dân phố T, phường B, thành phố C.
Ngu n gốc sử dụng đất do UBND phường B xác nhận như sau: Do ông Nguyễn Văn P3 và bà Nguyễn Thị M2 sử dụng t trư c năm 1993. Đến năm 2000, ông Nguyễn Văn P3 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn K3 và bà Phan Thị K (thất lạc giấy tờ). Đến năm 2005, ông K3 và bà K sang nhượng cho ông H và bà M sử dụng ổn định đến nay (giấy viết tay không được chính quyền xác nhận). Thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đăng ký: Trư c năm 1993. Tình trạng tranh chấp, khiếu nại về đất đai được UBND phường B xác nhận: Tại thời điểm xác lập h sơ không có tranh chấp, khiếu nại.
Trên cơ sở kiểm tra xác minh của UBND phường B, Chi nhánh Văn phòng Đ1 tại thành phố C, Phòng T6 đã tham mưu cho UBND thành phố cấp Giấy chứng nhận số CE 874770, số vào sổ CH01753 ngày 02/01/2018 cho ông H và bà M đối v i thửa đất nêu trên theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
Do thửa đất hiện đang tranh chấp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, căn cứ quy định tại Điều 203 Luật Đất đai năm 2013, UBND thành phố C đề nghị Tòa án giải quyết việc yêu cầu của người khởi kiện theo đúng quy định của pháp luật và đề nghị được vắng mặt trong tất cả các buổi công khai chứng cứ, đối thoại, hòa giải, làm việc và phiên xét xử của Tòa án.
Ngư i l m chứng tr nh y:
- à Phan Thị K tr nh ày:
Thửa đất có diện tích khoảng 78m2 mà vợ ch ng ông H, bà M đang sử dụng trư c đây có ngu n gốc của ông Nguyễn K1 (đã chết) đã sang nhượng cho vợ ch ng bà, có hàng rào ranh gi i riêng biệt, lúc này trên đất chưa xây dựng nhà. Khi kê khai sang nhượng thì thửa đất trên được ông Nguyễn S (con trai ông Nguyễn K1) viết giấy tay mua bán đất cho vợ ch ng bà. Ch ng bà tên là Nguyễn Văn K3 đại diện ký tên toàn bộ trên giấy tờ. Sau này, vợ ch ng bà m i xây dựng lên căn nhà ván lợp tôn trên thửa đất này.
Sống được vài năm, một phần vì đất thiêng không ở được nên năm 2003, vợ ch ng bà sang nhượng nhà đất v i diện tích khoảng 80m2 (chiều dài 10m, chiều ngang gần 8m, có ranh gi i hàng rào rõ ràng riêng biệt) cho vợ ch ng ông H, bà M theo Giấy mua bán viết tay được ch ng bà là Nguyễn Văn K3 lập thành hai 02 bản v i số tiền là 04 chỉ vàng, cho trả dần qua t ng năm. Ranh gi i nhà đất thể hiện rõ t hiên nhà trư c trở về sau. Vợ ch ng bà tuyệt đối không sang nhượng thêm bất kì diện tích hay xâm lấn đất của ai khác, không giao dịch sang nhượng cho vợ ch ng ông H, bà M phần diện tích đất m mả khoảng 50m2 là đất của bà Trần Thị M1 quản lý t trư c năm 1975.
Thửa đất vợ ch ng bà bán cho ông H, bà M có ranh gi i cố định, t n tại ổn định t lâu và có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất ông Nguyễn Minh Đ, phía Tây giáp đất ông Trần A1 (đã chết), phía Nam giáp khu đất mộ của gia đình bà Trần Thị M1, phía Bắc giáp đất ông Huỳnh G.
Mọi giấy tờ mua bán viết tay t ông S và giấy viết tay sang nhượng của vợ ch ng bà đều đã giao toàn bộ cho ông H, bà M giữ, vợ ch ng bà đã nhận đủ tiền và không giữ bất kỳ giấy tờ gì.
- à Huỳnh Thị P1 tr nh ày:
Năm 1992, bà mua 01 lô đất của ông Nguyễn Đức T1 để làm nhà. Khi sang nhượng đất cho bà, ông T1 có nói đường đi vô nhà ông Nguyễn T2 là đường đi chung, được sử dụng t trư c năm 1975; trên đất ông T1 bán cho bà có 03 cây d a, trong đó có 01 cây d a sát ranh gi i đất của ông Nguyễn K1. Trên đường đi chung vào nhà ông T2 có 01 dãy mộ g m 09 ngôi mộ của gia đình bà Trần Thị M1 nằm giáp ranh v i đất ông K1.
Đất của ông K1 là lô đất xéo không vuông góc, diện tích nh dùng để chất củi d a. Sau này, ông K1 cho con gái ở trên đất nhưng do trư c nhà có dãy mộ của nhà bà M1 nên gia đình con gái ông K1 không ở được và trả lại đất cho ông K1, còn ông T2 đã cho ông Đ đất cất nhà, có xây hàng rào ranh gi i v i đất nhà con gái ông K1. Sau đó, ông K1 bán phần đất này cho bà Trần Thị K2, bà K2 cất nhà sinh sống và có nhờ bà chặt cây d a nhưng cây d a còn nh nên bà chưa chặt. Sống được một thời gian thì bà K2 sang nhượng lại cho vợ ch ng ông H, bà M. Tại thời điểm ông H, bà M nhận sang nhượng thì trư c lô đất của ông H, bà M có hàng rào làm ranh gi i giữa lô đất của bà M và đất của bà M1. Sau đó, vì mưa bão nên vợ ch ng ông H, bà M có xin bà chặt cây d a sát ranh đất nhà bà M đang sống. Vì tình làng nghĩa xóm nên bà đ ng ý cho chặt cây d a.
Lô đất tranh chấp trư c đây có 09 ngôi mộ của gia đình bà M1. Năm 2019, bà M1 sang nhượng lại phần đất này cho ông Đ, có sự chứng kiến của tổ trưởng tổ dân phố là ông Nguyễn Đăng B và một số hàng xóm xung quanh g m ông Nguyễn Đức T3, bà Nguyễn Thị K4 (đều là con của ông Nguyễn Đức T1) và ông Nguyễn H ng L. Đến tháng 3/2021, ông Đ thuê ông Trần Đắc P2 di dời 09 ngôi mộ này lên nghĩa trang D. Sau đó, ông Đ dùng đất này để phế liệu.
Sau đó, bà M gọi người vào giăng dây đo đất. Con ông Đ ra ngăn cản thì bà M nói đất của bà M và bà M đã làm sổ đ chứ không có m mả gì.
- Ông Nguyễn S và à Nguyễn Thị Thu H2 tr nh ày:
Cha của ông, bà là ông Nguyễn K1 có khai phá 01 lô đất trư c năm 1975, diện tích bao nhiêu thì ông bà không rõ, lô đất xéo, không vuông góc, trư c đất có cây d a của ông Nguyễn Đức T1. Thửa đất có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất ông Nguyễn T2 (cha ông Nguyễn Minh Đ), phía Nam giáp đất có 09 ngô mộ của nhà bà Trần Thị M1 và đường đi chung, phía Tây và phía Bắc giáp đất của cha bà Huỳnh Thị P1. Ranh gi i đất xung quanh là hàng rào k m gai.
Sau đó, ông K1 cho con gái là Nguyễn Thị M2 sinh sống trên lô đất này nhưng do có con nh , trư c nhà lại có dãy mộ nên gia đình bà M2 không sống được, phải trả lại đất cho cha. Sau này, ông K1 bán lô đất này cho bà Trần Thị K2, còn bà K2 bán cho ai thì ông bà không biết. Còn phần đất có 09 ngôi mộ của gia đình bà M1 hiện nay ai đang sử dụng ông bà không biết.
- Ông Nguyễn H ng L tr nh ày:
Lô đất mà ông H, bà M đang tranh chấp v i ông Đ (hiện nay vợ ch ng ông Đ đang để phế liệu) có ngu n gốc là của bà Trần Thị M1. Ông sống ở khu vực này t năm 1987 và đã thấy trên thửa đất này trư c đây có 09 ngôi mộ; hàng năm, gia đình bà M1 đều đến tảo mộ. Năm 2019, bà M1 chuyển nhượng cho ông Đ lô đất có 09 ngôi mộ này v i giá 10 triệu đ ng; ông có làm chứng và ký vào hợp đ ng chuyển nhượng. Sau đó, ông Đức h cốt và di dời 09 ngôi mộ này vào nghĩa trang D.
Còn lô đất mà vợ ch ng ông H, bà M đã cất nhà ở có ngu n gốc của ông Nguyễn K1. Lô đất ông K1 và lô đất bà M1 có ranh gi i rõ ràng bằng một hàng rào dây k m gai. Ông K1 cho con gái sinh sống trên đất nhưng sống một thời gian thì con gái ông K1 trả lại đất cho ông K1; sau đó, ông K1 bán lại cho bà K2, bà K2 bán lại cho vợ ch ng ông H, bà M.
- Ông Nguyễn Đức T3 tr nh ày:
Lô đất mà ông H, bà M đang tranh chấp v i ông Đ có ngu n gốc của bà Trần Thị M1. Lô đất này nằm gần đất của cha mẹ ông (là ông Nguyễn Đức T1). Lô đất mà vợ ch ng ông Đ đang sinh sống, xây nhà cấp 4 là của ông Nguyễn T2 (là cha ông Đ). Lô đất ông T2 không có đường đi nên ông T1 đã cho một phần đất làm đường đi riêng vào nhà ông T2.
Còn lô đất vợ ch ng ông H, bà M đang cất nhà sinh sống có ngu n gốc của cậu ông là ông Nguyễn K1. Ông K1 cho con gái cất nhà ở. Gia đình con gái ông K1 sống một thời gian thì sang nhượng cho bà K2. Ông xác định đất của bà M1 có 09 ngôi mộ và hiện nay vợ ch ng ông Đ đang để phế liệu. Việc bà M1 và ông Đ sang nhượng đất khi nào ông không chứng kiến nhưng ông Đ có nhờ ông ký vào Hợp đ ng sang nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/3/2019 xác nhận 09 ngôi mộ nằm trên đất bà Mỹ.
- à Nguyễn Thị K4 tr nh ày:
Bà thống nhất v i trình bày của ông Nguyễn Đức T3 trình bày và bổ sung nội dung sau: Bà ở khu vực này t năm 1985 và đã thấy trên đất bà M1 có 09 ngôi mộ; hàng năm, gia đình bà M1 đều tảo mộ. Giữa lô đất của ông K1 và bà M1 có ranh gi i rõ ràng là hàng rào k m gai. Tháng 3/2021, vợ ch ng ông Đ có nhờ ông P2 hốt 09 ngôi mộ của gia đình bà M1. Sau khi thuê người hốt mộ, bà có nghe bà M1 và ông Đ nói đất này bà M1 đã sang nhượng cho ông Đ giá 10 triệu đ ng, còn sang nhượng khi nào thì bà không chứng kiến.
Năm 2021, vợ ch ng ông Đ và vợ ch ng bà M xảy ra tranh chấp đất thì ông Đ có nhờ bà ký vào hợp đ ng sang nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/3/2019 xác nhận 09 ngôi mộ nằm trên đất bà Mỹ.
- Ông Trần Đắc P2 tr nh ày: Ông không biết ngu n gốc đất tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn. Tháng 3/2021, ông Đ có nhờ ông bốc 09 ngôi mộ trên phần đất hiện nay đang để phế liệu v i giá 25 triệu đ ng. Ông có nghe vợ ch ng ông Đ nói chuyện là phần đất này của gia đình bà M1, bà M1 không có tiền bốc mộ nên đ ng ý sang nhượng cho ông Đ, đổi lại ông Đ bốc 09 ngôi mộ vào nghĩa trang D.
Nội dung vụ án như trên, ản án dân sự sơ thẩm số 32/2023/DS-ST ng y 19/9/2023 c a To án nhân dân tỉnh Khánh Ho đã quyết định:
Căn cứ Điều 221 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về đòi bị đơn trả lại 57,5m2 đất có ký hiệu Phần A tọa lạc tại tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa theo Trích đo địa chính thửa đất ngày 11/7/2023 kèm theo bản án.
2. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền v i đất số CE 874770, số vào sổ cấp GCN: CH01753 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp ngày 02/01/2018 cho ông Trần Mộng H và bà Phạm Thị Tuyết M đối v i thửa đất số 250, tờ bản đ số 26, tại tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và thông báo về quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm: ngày 28/9/2023, nguyên đơn - ông Trần Mộng H và bà Phạm Thị Tuyết M kháng cáo đề nghị sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo mà vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo như trên và đề nghị sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, buộc Bị đơn phải trả lại 57,5 m2 đất đã cấp cho Nguyên đơn, nếu 57,5 m2 đất là của bà M1 thì Nguyên đơn xin thanh toán tiền giá trị đất cho bà M1 theo định giá của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa; các đương sự không th a thuận được v i nhau về việc giải quyết tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định; Kiểm sát viên đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Nguyên đơn. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2023/DS-ST ngày 19/9/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
Sau khi nghe: Nội dung kháng cáo; ý kiến của các bên liên quan đến nội dung kháng cáo và tranh luận tại phiên tòa; Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn xét xử phúc thẩm và quan điểm của Viện kiểm sát về giải quyết vụ án. Sau khi thảo luận và nghị án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
. Xét kháng cáo của ông ông Trần Mộng H và bà Phạm Thị Tuyết M đề nghị sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, buộc Bị đơn phải trả lại 57,5 m2 đất vì cho rằng diện tích đất 57,5 m2 này nằm trong thửa đất số 250, tờ bản đ số 26, diện tích 140,1m2, tọa lạc tại tổ dân phố T, phường B, thành phố C đã được UBND thành phố C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền v i đất số CH 01753 ngày 02/01/2018 cho ông Trần Mộng H, bà Phạm Thị Tuyết M thì thấy:
. Theo H sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền v i đất số CH 01753 ngày 02/01/2018 cho ông Trần Mộng H và bà Phạm Thị Tuyết M, ngu n gốc sử dụng thửa đất số 250, tờ bản đ số 26, diện tích 140,1m2 được ông H, bà M kê khai và được UBND phường ba Ngòi xác nhận như sau: “Do ông Nguyễn Văn P3 và à Nguyễn Thị M2 sử dụng từ tr ớc năm 1993. Đến năm 2000, ông Nguyễn Văn P3 chuyển nh ng cho ông Nguyễn Văn K3 và à Phan Thị K (thất lạc giấy t ). Đến năm 2005, ông K3 và à K sang nh ng cho ông H và à M sử dụng ổn định đến nay (giấy viết tay không đ c chính quyền xác nh n)”.
. Theo lời khai của bà Phan Thị K (bút lục 26, 111) thì thửa đất có diện tích khoảng 78m2 mà vợ ch ng ông H, bà M đang sử dụng trư c đây có ngu n gốc của ông Nguyễn K1 (đã chết) đã sang nhượng cho vợ ch ng bà, có hàng rào ranh gi i riêng biệt, lúc này trên đất chưa xây dựng nhà, sau này, vợ ch ng bà m i xây dựng lên căn nhà ván lợp tôn trên thửa đất này. Năm 2003, vợ ch ng bà sang nhượng nhà đất v i diện tích khoảng 80m2 (chiều dài 10m, chiều ngang gần 8m, có ranh gi i hàng rào rõ ràng riêng biệt) cho vợ ch ng ông H, bà M theo Giấy mua bán viết tay được ch ng bà là Nguyễn Văn K3 lập thành hai 02 bản v i số tiền là 04 chỉ vàng, cho trả dần qua t ng năm. Ranh gi i nhà đất thể hiện rõ t hiên nhà trư c trở về sau, có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất ông Nguyễn Minh Đ, phía Tây giáp đất ông Trần A1 (đã chết), phía Nam giáp khu đất mộ của gia đình bà Trần Thị M1, phía Bắc giáp đất ông Huỳnh G. Vợ ch ng bà không giao dịch sang nhượng cho vợ ch ng ông H, bà M phần diện tích đất m mả khoảng 50m2 là đất của bà Trần Thị M1 quản lý t trư c năm 1975. Lời khai của bà Phan Thị K phù hợp v i lời khai của ông Nguyễn S, bà Nguyễn Thị Thu H2 và bà Nguyễn Thị M2 là các con ông Nguyễn K1 (bút lục 122, 131, 137, 138) theo đó, ông Nguyễn K1 khai phá lô đất khoảng 78m2 trư c năm 1975 có tứ cận: Đông giáp nhà ông Nguyễn T2 (cha ông Nguyễn Minh Đ), T4 và Bắc giáp đất của cha bà Huỳnh Thị P1, Nam giáp đất có 09 ngôi mộ của nhà bà Trần Thị M1 và đường đi chung; 09 ngôi mộ trên đất bà M1 có t trư c năm 1975. Ranh gi i giữa đất ông Nguyễn K1 v i các nhà xung quanh là hàng rào k m gai, có ranh gi i rõ ràng. Sau này, ông Nguyễn K1 bán cho bà Phan Thị K bằng miệng không có giấy tờ.
. Tại Bản tự khai ngày 04/5/2022 (bút lục 119), bà Trần Thị M1 c ng khai ngu n gốc thửa đất có diện tích khoảng hơn 50m2 do gia đình bà khai hoang t những năm 1950, trên đất có chôn 09 ngôi mộ. Năm 2019, gia đình bà M1 chuyển nhượng phần diện tích đất này cho ông Nguyễn Minh Đ bằng giấy tay cùng v i cam kết ông Đ phải lo chí phí để di dời 09 ngôi mộ đến nghĩa trang N làm nơi chôn cất m i cho 09 ngôi mộ nói trên. Đến tháng 4/2021, ông Đ đã hoàn thành việc di dời 09 ngôi mộ và gia đình bà M1 đã giao đất cho gia đình ông Đ quản lý, sử dụng đến nay. Hợp đ ng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 07/3/2019 (bút lục 144) giữa bên chuyển nhượng bà Trần Thị M1 và bên nhận chuyển nhượng ông Nguyễn Minh Đ c ng thể hiện nội dung này và c ng đúng v i Biên bản xác minh ngày 20/7/2023 tại UBND phường B (bút lục 283) thể hiện: Theo Bản đ HN72 đo đạc năm 1999 - 2000 thì phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 59 tờ bản đ 38 diện tích 140m2, loại đất nghĩa địa, không có h sơ kỹ thuật thửa đất.
. Bản án sơ thẩm nhận định: “ Nh v y, có đủ cơ sở xác định phần đất đang tranh chấp là đất mộ của gia đ nh à M1 đã chuyển nh ng cho ông Nguyễn Minh Đ, không nằm trong phần đất mà ông H và à M nh n chuyển nh ng của v ch ng à Trần Thị K2. Vi c UBND thành phố C cấp giấy ch ng nh n s vào sổ: CH01753 ngày 02 01 2018 đ i với thửa đất s 250, t
n đ s 26 di n tích 140,1m2 cho ông H và à M ao g m c phần di n tích đất nghĩa địa của à Trần Thị M1 là không đúng hi n trạng di n tích đất mà ông H, à M nh n chuyển nh ng từ à K2 nên trái pháp lu t, cần ph i hủy ỏ và yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn ông H và à M không có căn c , không đ c chấp nh n” để không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp v i các nội dung đã nhận định ở trên.
. T những phân tích trên, có căn cứ để khẳng định Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2023/DS-ST ngày 19/9/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là có căn cứ. Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn - ông Trần Mộng H và bà Phạm Thị Tuyết M kháng cáo nhưng không có chứng cứ nào khác làm thay đổi Quyết định của Bản án sơ thẩm nên Hội đ ng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông H, bà M. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2023/DS-ST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
. Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Trần Mộng H và bà Phạm Thị Tuyết M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ về án phí và lệ phí Tòa án.
T những nhận định trên .
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Mộng H và bà Phạm Thị Tuyết M. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2023/DS-ST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Áp dụng Điều 221 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Mộng H và bà Phạm Thị Tuyết M về đòi bị đơn trả lại 57,5m2 đất có ký hiệu Phần A tọa lạc tại tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa theo Trích đo địa chính thửa đất ngày 11/7/2023 kèm theo Bản án sơ thẩm số 32/2023/DS-ST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
2. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền v i đất số CE 874770, số vào sổ cấp GCN: CH01753 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp ngày 02/01/2018 cho ông Trần Mộng H và bà Phạm Thị Tuyết M đối v i thửa đất số 250, tờ bản đ số 26, tại tổ dân phố T, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
3. Án phí dân sự phúc thẩm:
- Áp dụng: khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Ông Trần Mộng H và à Phạm Thị Tuyết M ph i chịu 300.000 đ ng án phí dân s phúc thẩm nh ng đ c trừ vào s tiền tạm ng án phí dân s phúc thẩm đã nộp tại tại iên lai thu tạm ng án phí: s 0000298 ngày 27 11 2023 của Cục thi hành án dân s tỉnh Khánh Hòa.
4. Án phí sơ thẩm; Chi phí tố tụng; Quy định về thi hành án, chậm thi hành án được tực hiện theo Quyết định tại Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2023/DS-ST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Cục THADS tỉnh Khánh Hòa; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HSVA, PHCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Tiến |