vanban.org

Bản án 91/2024/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đắk Nông Tuyên án 26/09/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/09/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy bản án dân sự sơ thẩm 14/2024/DS-ST ngày 07/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông giải quy t lại theo thủ tục sơ thẩm. Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả lại cho: Ông Mai Thanh L1 số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đ nộp là 300.000 đồng Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0005119 của Chi cục Thi hành án dân sự huy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn n: Ông Nguyễn Văn Q và bị đơn ông Mai Thanh L"
  • Tòa quyết gì? Hủy bản án dân sự sơ thẩm 14/2024/DS-ST ngày 07/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2024/DS-PT
Ngày: 26/09/2024
“V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hữu;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Anh Ửng và ông Bùi Danh Đại.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Bắc - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2024/TLPT-DS, ngày 21 tháng 08 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2024/DS-ST ngày 07/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.

Theo uy t định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 47/2024/ Đ-PT ngày 27 tháng 8 năm 2024, uy t định ho n phiên tòa số 75/2024/ Đ-PT ngày 13 tháng 9 năm 2024. iữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn , sinh năm: 1965; địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Khánh L (theo hợp đồng ủy quyền ngày 10-11-2022) – vắng mặt.

Người được ông L ủy quyền lại: Bà Nguyễn Thị Thu H (theo hợp đồng ủy quyền ngày 16-04-2024); địa chỉ: H N, T, huyện C, tỉnh Đắk Nông – có mặt.

- Bị đơn: Ông Mai Thanh L1, sinh năm: 1967; địa chỉ: Thôn A, x N, huyện C, tỉnh Đắk Nông– có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Minh N, ông Mai Trung H1, bà Mai Thu H2; địa chỉ: Thôn A, x N, huyện C, tỉnh Đắk Nông– vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Mai Trung H1 và bà Mai Thu H2: Ông Lê Chí V (theo hợp đồng ủy quyền ngày 29-11-2023), sinh năm:1950; địa chỉ: Ấp B, x C, thành phố P, tỉnh Kiên iang – có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Bùi Minh N: Ông Nguyễn Hồng S (theo hợp đồng ủy quyền ngày 03-5-2024), sinh năm: 1972; địa chỉ: Số H - H, đường số B, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh – có mặt.

Do có kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn , bị đơn ông Mai Thanh L1, người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Chí V và ông Nguyễn Hồng S.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20-9-2022 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Tháng 2/1998, ông Q nhận chuyển nhượng của ông L1 01 diện tích đất có chiều ngang giáp đường 5m, chiều sâu 50m, diện tích 250m2 tại thôn F, xã N, huyện C. Thời điểm đó, bên mua chưa trả đủ tiền, hai bên chỉ vi t giấy tay và ra Uỷ ban nhân dân x đóng dấu, th a thuận khi nào trả đủ s làm đúng thủ tục và tách b a, theo thông lệ chung tại địa phương là vậy; giá th a thuận là 10.000.000đ, tính b ng vàng (6666), giá cụ thể là 8 chỉ/m. L n đ u trả 3 cây 2 (3,2 cây), 03 tháng sau ông Q trả đủ số vàng còn lại. Khi giao nhận vàng hai bên có làm giấy giao nhận nhưng ông không còn nh để đâu v thực t ông Q đ sử dụng đất t năm 1998 đ n nay. Sau khi nhận chuyển nhượng ông Q đ sử dụng đất ổn định không có tranh chấp v i ai; ông đ xây nhà cấp 4, làm chuồng trại, gi ng khoan...trên đất. Ông Q chỉ bi t diện tích đất ông mua của ông L1 n m trong b a đ của ông L1 còn không bi t cụ thể chi ti t thửa đất nào, tờ bản đồ nào. Hai bên vi t giấy tay mua bán có ông Vũ Minh N1 là bí thư thôn, địa chính x và chủ tịch xã N xác nhận. Về sau, nhiều l n ông Q yêu c u ông L1 làm thủ tục chuyển nhượng cho ông Q nhưng ông L1 không thực hiện. V vậy, ông Q khởi kiện yêu c u Tòa án buộc ông Mai Thanh L1 phải thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất v i diện tích 250m2 cho ông Q theo th a thuận trong giấy sang nhượng đất thổ cư ngày 18/11/1998.

Ngày 20/3/2023, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi nội dung yêu c u khởi kiện, cụ thể: Đề nghị Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn và ông Mai Thanh L1 ngày 18/11/1998 đối v i thửa đất 195a, tờ bản đồ số 12 diện tích 250 m2, tọa lạc tại thôn A, x N, huyện C, tỉnh Đăk Nông.

Ngày 12/12/2023, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi nội dung yêu c u khởi kiện, cụ thể: Đề nghị Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn và ông Mai Thanh L1 ngày 18/11/1998 đối v i thửa đất 195a, tờ bản đồ số 12 diện tích 240,8 m2, tọa lạc tại thôn A, x N, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Buộc ông Mai Thanh L1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là thành viên hộ gia đ nh ông L1 tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối v i thửa đất số 195 tờ bản đồ số 12 tọa lạc tại thôn A x N, huyện C, tỉnh Đăk Nông cùng có nghĩa vụ tách thửa để sang nhượng diện tích đất 240,8 m2 mà ông L1 đ đại diện chuyển nhượng vào ngày 18/11/1998.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi một ph n yêu c u khởi kiện, cụ thể: Đề nghị Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn và ông Mai Thanh L1 ngày 18/11/1998 đối v i thửa đất 195a, tờ bản đồ số 12 diện tích 240,8 m2, tọa lạc tại thôn A, x N, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Buộc ông Mai Thanh L1 và những ngưởi có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là thành viên hộ gia đ nh ông L1 tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối v i thửa đất số 195, tờ bản đồ số 12 tọa lạc tại thôn A x N, huyện C, tỉnh Đăk Nông cùng có nghĩa vụ tách thửa để sang nhượng diện tích đất 240,8 m2 mà ông L1 đ đại diện chuyển nhượng vào ngày 18/11/1998, trong đó có ít nhất 100 m2 đất ở.

Qúa trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Mai Thanh L1 trình bày:

Năm 1992-1993, vợ chồng ông L1 có mua của ông Đỗ Duy H3 một thửa đất diện tích khoảng 5 sào rưỡi, khi mua đất chưa có b a đ . Khoảng năm 1993, Nhà nư c có chính sách làm b a đ cho dân theo đợt, gia đ nh ông kê khai và sau này được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (vi t tắt là CN SDĐ) đất số R 253642 do UBND huyện C cấp ngày 09/3/2001 cho hộ ông L1, thửa đất được cấp là 195, tờ bản đồ số 12, diện tích 5220m2, trong đó có 200m2 đất ở, còn lại là đất canh tác. Năm 1998-1999, ông L1 bán cho ông Phạm Văn T khoảng 250m2, hai bên đ tách b a xong, ông L1 làm lại b a m i vào năm 2001. Vào năm 1998, ông L1 có chuyển nhượng cho ông Q một ph n của thửa đất số 195, tờ bản đồ số 12 v i diện tích 250 m2 đất nông nghiệp, v i giá 10.000.000 đồng. Ông L1 đ giao đất cho ông Q. Sau khi chuyển nhượng đất cho ông Q thì ông L1 có nói v i vợ ông là bà Bùi Minh N còn bà N có nghe được hay không th ông không bi t. T khi chuyển nhượng đất cho ông Q cho đ n trư c khi ông Q khởi kiện th giữa ông L1 và ông Q th không xảy ra tranh chấp. Trong quá tr nh giải quy t vụ án, ông L1 đồng ý làm thủ tục chuyển nhượng, tách thửa cho ông Q v i diện tích 250 m2 đất trong đó có 50 m2 đất ở (BL53, 54). Tại phiên tòa sơ thẩm, ông L1 đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/11/1998 giữa ông Q v i ông L1 là vô hiệu, bởi v thửa đất 195, tờ bản đồ số 12 được cấp cho hộ gia đ nh ông Mai Thanh L1, nhưng khi ông L1 chuyển nhượng đất cho ông Q th vợ và các con ông không bi t, hơn nữa do ông Q chưa thanh toán đủ tiền cho ông L1 nên gia đ nh ông L1 không đồng ý chuyển nhượng đất cho ông Q.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Mai Trung H1, chị Mai Thu H2 là ông Lê Chí V trình bày:

Năm 1998, ông Mai Thanh L1 có chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn 01 ph n của thửa đất 195, tờ bản đồ số 12 v i diện tích 250 m2, đất tọa lạc tại thôn A, x N, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Thửa đất trên được cấp cho hộ gia đ nh ông Mai Thanh L1, tuy nhiên khi ông L1 chuyển nhượng đất cho ông Q thì ông L1 không bàn bạc g v i vợ ông là bà Bùi Minh N và các con của ông L1. Bà N2 không được sử dụng số tiền mà ông L1 chuyển nhượng đất cho ông Q. Năm 2013 khi ông Q đem iấy sang nhượng đất đ n th bà N2 m i bi t việc chuyển nhượng, đồng thời ông Q không cung cấp được iấy biên nhận tiền. Cùng thời gian đó, ông Q dựng nhà trên đất thì bà N2 có ngăn cản nhưng ông Q vẫn làm. Ban đ u ông Q chỉ làm nhà tạm, sau này m i xây dựng lại kiên cố. Nay ông Q khởi kiện ông L1 yêu c u Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn và ông Mai Thanh L1 ngày 18/11/1998 đối v i thửa đất 195a, tờ bản đồ số 12 diện tích 240,8 m2, tọa lạc tại thôn A, x N, huyện C, tỉnh Đăk Nông, buộc ông Mai Thanh L1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là thành viên hộ gia đ nh ông L1 tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối v i thửa đất số 195a, tờ bản đồ số 12 tọa lạc tại thôn A x N, huyện C, tỉnh Đăk Nông cùng có nghĩa vụ tách thửa để sang nhượng diện tích đất 240,8 m2 mà ông L1 đ đại diện chuyển nhượng vào ngày 18/11/1998, trong đó có ít nhất 100 m2 đất ở, tỉnh Đăk Nông th anh H1 và chị H2 không đồng ý và có yêu c u độc lập: Yêu c u Tòa án không công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Q và ông L1; buộc ông Q tháo dỡ toàn bộ công tr nh trên đất và trả lại diện tích đất 250m2 cho bà N2 và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của anh H1, chi H2 thay đổi yêu c u độc lập, cụ thể: Anh H1, chị H2 đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Q và ông L1 có hiệu lực; Buộc ông Nguyễn Văn phải thanh toán cho bà Bùi Minh N, anh Mai Trung H1, chị Mai Thu H2 số tiền 200.000.000 đồng, đây là số tiền mà ông Q còn nợ ông L1 khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Người đại diện theo ủy quyền của của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Minh N là ông Nguyễn Hồng S trình bày:

Năm 1998 ông Mai Thanh L1 có chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn 01 ph n của thửa đất 195, tờ bản đồ số 12 v i diện tích 250 m2, đất tọa lạc tại thôn A, x N, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Thửa đất trên được cấp cho hộ gia đ nh ông Mai Thanh L1, tuy nhiên khi ông L1 chuyển nhượng đất cho ông Q thì ông L1 không bàn bạc g v i vợ ông là bà Bùi Minh N và các con của ông L1. Bà N2 không được sử dụng số tiền mà ông L1 chuyển nhượng đất cho ông Q. Năm 2013 khi ông Q đem iấy sang nhượng đất đ n th bà N2 m i bi t việc chuyển nhượng, đồng thời ông Q không cung cấp được iấy biên nhận tiền. Cùng thời gian đó, ông Q dựng nhà trên đất th bà N2 có ngăn cản nhưng ông Q vẫn làm. Ban đ u ông Q chỉ làm nhà tạm, sau này m i xây dựng lại kiên cố. Nay ông Q khởi kiện ông L1 yêu c u Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn và ông Mai Thanh L1 ngày 18/11/1998 đối v i thửa đất 195a, tờ bản đồ số 12 diện tích 240,8 m2, tọa lạc tại thôn A, x N, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Buộc ông Mai Thanh L1 và những ngưởi có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là thành viên hộ gia đ nh ông L1 tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối v i thửa đất số 195, tờ bản đồ số 12 tọa lạc tại thôn A x N, huyện C, tỉnh Đăk Nông cùng có nghĩa vụ tách thửa để sang nhượng diện tích đất 240,8 m2 mà ông L1 đ đại diện chuyển nhượng vào ngày 18/11/1998, trong đó có ít nhất 100 m2 đất ở, tỉnh Đăk Nông th bà N2 không đồng ý và có yêu c u độc lập: Yêu c u Tòa án không công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Q và ông L1; Buộc ông Q tháo dỡ toàn bộ công tr nh trên đất và trả lại diện tích đất 250m2 cho bà N2 và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà N2 thay đổi yêu c u độc lập, cụ thể: Anh H1, chị H2 đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Q và ông L1 có hiệu lực; Buộc ông Nguyễn Văn phải thanh toán cho bà Bùi Minh N, anh Mai Trung H1, chị Mai Thu H2 số tiền 200.000.000 đồng, đây là số tiền mà ông Q còn nợ ông L1 khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Người làm chứng ông Vũ Văn N3 trình bày:

Ông là hàng xóm của ông Q và ông L1. Năm 1998, ông N3 trong ban tự quản ở thôn F, xã N. Ông là người ký xác nhận vào việc chuyển nhượng đất giữa ông Q và ông L1. Thời gian đ lâu nên ông không nh chính xác giá trị chuyển nhượng là bao nhiêu, ông Q đ thanh toán đ y đủ tiền cho ông L1. Diện tích ông L1 bán cho ông Q là rộng 5m, dài 50m, tổng 250m2. Hai bên th a thuận miệng v i nhau về việc ông L1 tách cho ông Q 100m2 đất ở. Ông L1 giao đất cho ông Q t năm 1998, ông Q sử dụng t đó đ n nay, đ làm nhà và ở trên đất.

Người làm chứng ông Vũ Ti n P trình bày:

Năm 1998, ông là cán bộ địa chính công tác tại UBND xã N, ông không nh chính xác là ông Q và ông L1 đ n UBND yêu c u xác nhận vào giấy sang nhượng đất giữa người chuyển nhượng là ông L1, người nhận chuyển nhượng là ông Q. ia đ nh ông L1 có thửa đất số 195, tờ bản đồ số 12. Ông L1 chuyển nhượng cho ông Q diện tích đất 250m (rộng 5m x 50m dài) s được tách t thửa 195 tờ bản đồ số 12 thành thửa 195a, tờ bản đồ số 12. Ban địa chính x xác nhận nội dung chuyển nhượng giữa ông L1 và ông Q là có thật và xác nhận ph n diện tích đất các bên chuyển nhượng cho nhau là đất ở khu dân cư chứ không phải là đất thổ cư (hay đất ở). Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Q và ông L1 v i diện tích 250m2 là đất ở hay đất nông nghiệp th chỉ khi các bên làm hợp đồng để làm thủ tục tách thửa đất th tự th a thuận v i nhau tại Phòng địa chính của huyện C nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C).

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số:14/2024/DS-ST ngày 07/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông đã tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/11/1998 giữa ông Mai Thanh L1 với ông Nguyễn Văn có hiệu lực pháp luật.

Buộc ông Mai Thanh L1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là thành viên hộ gia đình ông L1 tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 195, tờ bản đồ số 12 tọa lạc tại thôn A x N, huyện C, tỉnh Đăk Nông cùng có nghĩa vụ tách thửa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 253462 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 09/3/2001 tại thửa đất đất số 195, tờ bản đồ số 12 với diện tích đất theo biên bản xem, xét thẩm định tại chỗ ngày 23/4/3023 là 240,8 m2 trong đó có 60 m2 đất ở, 180,8 m2 đất nông nghiệp) đất tọa lạc tại thôn A, x N, huyện C, tỉnh Đăk Nông mang tên hộ ông Mai Thanh L1 theo quy định của pháp luật.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn đối với yêu cầu buộc ông Mai Thanh L1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là thành viên hộ gia đình ông L1 tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 195, tờ bản đồ số 12 tọa lạc tại thôn A x N, huyện C, tỉnh Đăk Nông cùng có nghĩa vụ tách thửa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 253462 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 09/3/2001 tại thửa đất đất số 195, tờ bản đồ số 12 đối với diện tích 40 m2 đất ở.

2. Bác yêu cầu phản tố của ông Mai Thanh L1 đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Mai Thanh L1 và ông Nguyễn Văn được xác lập ngày 18/11/1998 là vô hiệu.

3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đối với yêu cầu đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Q và ông L1 có hiệu lực; Buộc ông Nguyễn Văn phải thanh toán cho bà Bùi Minh N, anh Mai Trung H1, chị Mai Thu H2 số tiền 200.000.000 đồng, đây là số tiền mà ông Q còn nợ ông L1 khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quy t định về nghĩa vụ thi hành án, án phí và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 17/06/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Văn

kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một ph n bản án buộc ông Mai Thanh L1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là thành viên hộ gia đ nh ông L1 tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối v i thửa đất số 195 tờ bản đồ số 12 tọa lạc tại thôn A x N, huyện C, tỉnh Đăk Nông cùng có nghĩa vụ tách thửa để sang nhượng diện tích đất 240,8 m2 (trong đó có 100m2 là đất ở) mà ông L1 đ đại diện chuyển nhượng vào ngày 18/11/1998; bị đơn ông Mai Thanh L1 và người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Minh N, anh Mai Trung H1, chị Mai Thu H2 cùng kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa một ph n bản án sơ thẩm theo hư ng: Buộc nguyên đơn phải thanh toán cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà N, anh H1 và chị H2 số tiền 343.428.960 đồng và chỉ bàn giao cho nguyên đơn tách thửa diện tích đất là 240,8m2 đất khu vực nông thôn mà không có 60m2 đất ở nông thôn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu c u khởi kiện, các bên vẫn giữ nguyên yêu c u kháng cáo. Các đương sự không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ m i.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông phát biểu ý ki n: Người tham gia tố tụng và người ti n hành tố tụng đ thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự tại Toà án cấp phúc thẩm.

Về nội dung: Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ có trong hồ sơ, k t quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự: Hủy Bản án Dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút để giải quy t lại theo thủ tục chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, k t quả tranh tụng tại phiên tòa, đối chi u v i quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

. Đơn kháng cáo của các đương sự đảm bảo quyền kháng cáo, h nh thức, nội dung và thời hạn theo đúng quy định tại các Điều 217, 272, khoản 2 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, do đó việc thụ lý giải quy t vụ án theo thủ tục phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông là đúng quy định của pháp luật.

. uá tr nh giải quy t vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đ có những sai sót về thủ tục tố tụng như sau:

. Xác định thi u người tham gia tố tụng trong vụ án: Theo sổ hộ khẩu ông Q cung cấp, ông có vợ là bà Tr n Thị B. Tuy nhiên quá tr nh giải quy t vụ án Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm việc v i bà Tr n Thị B, chưa làm rõ bà B có liên quan đ n việc chuyển nhượng đất giữa ông Q và ông L1 hay không? Ph n thửa đất ông Q mua của ông L1 là tài sản riêng hay tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông Q và bà B để xác định tư cách tham gia tố tụng của bà B trong vụ án, việc xác định thi u người tham gia tố tụng trong vụ án có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đ n quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

. Về xác định yêu c u khởi kiện bổ sung của người khởi kiện: Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi nội dung yêu c u khởi kiện, cụ thể: Đề nghị Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn và ông Mai Thanh L1 ngày 18/11/1998 đối v i thửa đất 195a, tờ bản đồ số 12 diện tích 240,8 m2, tọa lạc tại thôn A, x N, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Buộc ông Mai Thanh L1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là thành viên hộ gia đ nh ông L1 tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối v i thửa đất số 195 tờ bản đồ số 12 tọa lạc tại thôn A x N, huyện C, tỉnh Đăk Nông cùng có nghĩa vụ tách thửa để sang nhượng diện tích đất 240,8 m2 (trong đó có ít nhất 100m2 đất ở) mà ông L1 đ đại diện chuyển nhượng vào ngày 18/11/1998. Hội đồng xét xử sơ thẩm chưa xác định nội dung thay đổi này có vượt quá phạm vi yêu c u khởi kiện ban đ u hay không? để chấp nhận xem xét theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về xác định và giải quy t yêu c u phản tố của bị đơn: uá tr nh giải quy t vụ án, bị đơn ông L1 không có yêu c u phản tố, tại phiên tòa sơ thẩm, ông L1 đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/11/1998 giữa ông Q v i ông L1 là vô hiệu. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định tại mục 2.3 của bản án: “... Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Như vậy, tại phiên tòa ông Mai Thanh L1 mới có yêu cầu phản tố nên không được chấp nhận”. Như vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm không chấp nhận đề nghị của bị đơn là yêu c u phản tố để xem xét. Tuy nhiên, tại mục 2 ph n uy t định của Bản án sơ thẩm lại tuyên xử: “2. Bác yêu cầu phản tố của ông Mai Thanh L1 đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Mai Thanh L1 và ông Nguyễn Văn được xác lập ngày 18/11/1998 là vô hiệu”. Như vậy, việc xác định và giải quy t yêu c u phản tố của bị đơn tại Tòa án cấp sơ thẩm là mâu thuẫn giữa ph n Nhận định và uy t định, xác định sai những yêu c u c n được giải quy t trong vụ án.

. Về xác định và giải quy t yêu c u độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: uá tr nh giải quy t vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bùi Minh N, anh Mai Trung H1, chị Mai Thu H2 có yêu c u độc lập: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Q và ông L1. Yêu c u ông Q tháo dỡ toàn bộ công tr nh trên đất. Tòa án đ thụ lý yêu c u độc lập theo Thông báo thụ lý số 106B ngày 03/11/2023. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thay đổi yêu c u độc lập, yêu c u Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Q và ông L1. Buộc ông Q phải thanh toán số tiền 200.000.000 đồng cho bà Bùi Minh N, anh Mai Trung H1, chị Mai Thu H2. Tại mục 2.4. ph n Nhận định của Bản án xác định: “Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thay đổi yêu cầu độc lập là vượt quá yêu cầu độc lập ban đầu nên không được chấp nhận”. Tuy nhiên trong mục 3 ph n uy t định của Bản án lại tuyên xử: “3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đối với yêu cầu đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Q và ông L1 có hiệu lực; Buộc ông Nguyễn Văn phải thanh toán cho bà Bùi Minh N, anh Mai Trung H1, chị Mai Thu H2 số tiền 200.000.000 đồng, đây là số tiền mà ông Q còn nợ ông L1 khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất” là giải quy t ph n yêu c u độc lập không được chấp nhận, nhưng lại không xem xét giải quy t yêu c u độc lập đ thụ lý là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

. uy t định sữa chữa, bổ sung bản án của Tòa án cấp sơ thẩm chưa đảm bảo quy định tại khoản 1 Điều 268 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về nội dung:

uá tr nh giải quy t vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đ y đủ để làm căn cứ giải quy t vụ án, cụ thể:

. Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ( CN SDĐ) kể t thời điểm cấp l n đ u cho đ n nay, đối v i thửa đất số 195, tờ bản đồ số 12, tại thôn A, x N, huyện C, tỉnh Đắk Nông để xác định thời điểm ông L1 chuyển nhượng đất cho ông Q th thửa đất đ được cấp CN SDĐ hay chưa (v theo lời khai của bà Bùi Minh N, trư c khi được cấp CN SDĐ năm 2001 th gia đ nh bà đ được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp (BL 45) )? được cấp cho hộ gia đ nh hay cá nhân ông L1? N u cấp cho hộ gia đ nh th thời điểm đó hộ gia đ nh ông L1 gồm những ai để xác định quyền và nghĩa vụ của các thành viên của hộ gia đ nh trong việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

. Theo biên bản lấy lời khai người làm chứng ông Vũ Ti n P (BL 176) thể hiện: Năm 1998, ông là cán bộ địa chính công tác tại UBND xã N, ông xác nhận có việc ông L1 chuyển nhượng cho ông Q ph n diện tích đất 250m2, và sau s tách t thửa 195 thành thửa số 195a cho ông Q, đồng thời theo hồ sơ vụ án có 01 CN SD đất số R 253642 do UBND huyện C cấp ngày 09-3-2001 cho hộ ông Mai Thanh L1, tại ph n trích lục bản đồ trong CN SD đất số R 253642 có thể hiện ph n thửa đất ký hiệu số 195a. Tuy nhiên, theo iấy sang nhượng đất thổ cư giữa ông Q và ông L1 th vị trí đất sang nhượng có tứ cận: Đông giáp rẫy cà phê của ông L1, T1 giáp đường, Nam giáp ông Nguyễn Xuân 1, Bắc giáp ông Phạm Văn T, còn theo trích lục bản đồ thửa đất số 195, tờ bản đồ số 12 th thửa đất 195A được xác định là phần đất ông L1 chuyển nhượng cho ông Q1 được bao bọc phía Tây là đường còn 03 phía còn lại nằm hoàn toàn trong thửa đất số 195, tờ bản đồ số 12). Tại sao lại có sự khác biệt về tứ cận thửa đất 195a như trên, vấn đề này chưa được Tòa án sơ thẩm làm rõ? Mặt khác, theo lời khai của ông Mai Thanh L1 (BL số 53): Nguồn gốc thửa đất 195, tờ bản đồ số 12 là do vợ chồng ông mua của ông Đỗ Duy H3 diện tích hơn 5 sào, năm 1998-1999 ông đ bán cho ông Phan Văn T2 khoảng 250m2, hai bên đ tách b a xong, như vậy diện tích khoảng 250m2 ông bán cho ông Phan Văn T2 có n m trong thửa số 195 hay thửa số 195a hay không, Tòa án sơ thẩm chưa thu thập hồ sơ chuyển nhượng giữa ông L1 và ông T2? Diện tích 250m2 mà ông L1 chuyển nhượng cho ông Q1 năm 1998 n m trong thửa đất nào? Hiện nay gia đ nh ông L1 còn sử dụng ph n diện tích đất nào tại thửa đất số 195, tờ bản đồ số 12 không? úa tr nh giải quy t vụ án, Tòa án sơ thẩm chưa làm rõ được ph n thửa đất ký hiệu số 195a hiện nay có còn n m trong CN SD đất của thửa đất số 195 cấp cho ông L1 hay không? Tổng diện tích đất 5.220m2 có bao gồm diện tích đất của thửa đất mà ông L1 đ bán cho ông Q1 và ông T2 hay không? Như vậy, Tòa án sơ thẩm chưa làm rõ được yêu c u của đương sự và chưa xác định được diện tích đất tranh chấp n m tại thửa đất nào? do đó chưa đủ căn cứ để giải quy t vụ án.

. Đối v i yêu c u về ph n diện tích đất ở: Theo CN SDĐ số 253642 đối v i thửa đất số 195, tờ bản đồ số 12, cấp ngày 09/03/2001 cho hộ ông L1, chỉ có 200m2 đất ở, do đó việc ông Q1 cho r ng ông L1 sang nhượng cho ông Q1 250m2 thổ cư cũng chính là đất ở là không phù hợp. Do đó, c n hiểu r ng cụm t “đất thổ cư” tại thời điểm chuyển nhượng không đồng nghĩa v i “đất ở”, đây là thuận ngữ theo tập quán địa phương khi người dân mua bán đất sử dụng để ở. Theo “ iấy sang nhượng đất thổ cư” ngày 18/11/1988 th thửa đất bị đơn chuyển nhượng cho nguyên đơn là thửa đất được tách ra t thửa số 195, diện tích 5.220m2, mục đích sử dụng 5.020m “đất màu”và 200m “đất ở”, thời hạn sử dụng đất đ n năm 2048. Tại giấy sang nhượng này, các bên không ghi cụ thể cách hiểu “thổ cư” như th nào cũng như không rõ nghĩa vụ của bên chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng liên quan đ n đất thổ cư ra sao. Cấp sơ thẩm chưa làm rõ nội dung này, chưa căn cứ vào quy định pháp luật về đất đai tại thời điểm sang nhượng đất, các quy định cụ thể của Ủy ban nhân dân tỉnh về diện tích đất tối đa và tối thiểu mà nhà nư c quy định, đ tuyên buộc ông L1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là thành viên hộ gia đ nh ông L1 có nghĩa vụ chuyển nhượng cho ông Q1 60m đất ở và không chấp nhận yêu c u của ông Q1 đối v i việc buộc ông L1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là thành viên hộ gia đ nh chuyển nhượng 40m đất ở là chưa phù hợp v i quy định của pháp luật.

. T các phân tích, nhận định nêu trên, xét thấy những thi u sót và vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm, tại phiên tòa phúc thẩm không thể bổ sung, khắc phục được. V vậy, Hội đồng xét xư c n hủy Bản án Dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút để giải quy t lại theo thủ tục sơ thẩm.

. Về quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông là có căn cứ, Hội đồng xét xử c n chấp nhận.

. Do Bản án sơ thẩm bị hủy nên Hội đồng xét xử không xem xét nội dung kháng cáo của các đương sự, vụ án được giải quy t lại theo thủ tục sơ thẩm.

.Về án phí: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 và khoản 3 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 3 Điều 29 Nghị quy t số: 326/2016/UBTV H14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ uốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Hủy bản án dân sự sơ thẩm 14/2024/DS-ST ngày 07/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông giải quy t lại theo thủ tục sơ thẩm.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả lại cho: Ông Mai Thanh L1 số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đ nộp là 300.000 đồng Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0005119 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Jút; ông Lê Chí V số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đ nộp là 600.000 đồng Sáu trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0005121 và số 0005120 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Jút; ông Nguyễn Hồng S số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đ nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0005122 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Jút; ông Nguyễn Văn số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đ nộp là 300.000 đồng Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0005125 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Jút.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể t ngày tuyên án.

Cỡ chữ