- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mạc Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Các Điều 329, 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2023/HSST Ngày 19 - 4 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Cần
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hoàng Lan
2. Ông Phạm Lành
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thái, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Đinh Văn Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2023, tại Trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 93/2023/TLST-HS, ngày 27 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2023/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: MẠC VĂN S, tên gọi khác: Không; sinh năm 198x, tại: Thái Nguyên.
Nơi cư trú: Tổ 05, phường CG, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông: Mạc Văn Q, sinh năm 195x; con bà: Đặng Thị H, sinh năm 195x; Vợ là: Lù Thị Đ, sinh năm 198x và có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền sự: Không; Tiền án: 01
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 380/2021/HSST, ngày 26/8/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt MẠC VĂN S 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đã chấp hành xong bản án ngày 08/9/2022)
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/01/2023, tạm giam từ ngày 21/01/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Thái Nguyên (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Lù Thị Đ, sinh năm 198x (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 05, phường CG, thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên
- Người chứng kiến: Ông Lê Thanh P, sinh năm 196x (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 04, phường TL, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 15 phút, ngày 12/01/2023, Tổ công tác của Công an phường TL, thành phố Thái Nguyên tuần tra làm nhiệm vụ tại khu vực Tổ 07, phường TL, thành phố Thái Nguyên thì phát hiện thấy một đối tượng nam giới đang điều khiển xe mô tô có biểu hiện liên quan đến ma túy, nên đã tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra đối tượng nam giới khai tên là MẠC VĂN S, sinh 198x, trú tại: Tổ 05, phường CG, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; đồng thời tự giác lấy trong túi áo khoác phía trước bên phải đang mặc trên người ra 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác (Sự khai nhận đó là ma túy, loại Heroine do Sự mua về để sử dụng cho bản thân). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và tạm giữ của Sự 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda vision, biển kiểm soát 20B2- 126.73, rồi đưa Sự cùng các vật chứng thu giữ về cơ quan công an để giải quyết theo thẩm quyền.
Hồi 21 giờ 10 phút, ngày 12/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng vật chứng nghi là ma túy thu giữ của MẠC VĂN S xác định có khối lượng là 0,243gam; rồi niêm phong trong phong bì ký hiệu S1 gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 299/KL-KTHS ngày 20/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: “Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu S1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,243 gam”.
Tại cơ quan điều tra MẠC VĂN S khai nhận: Khoảng 18 giờ 15 phút, ngày 12/01/2023 Sự điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, BKS: 20B2-126.73 đi từ khu vực thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực ngã tư gần công ty Glonics Thái Nguyên, thuộc tổ 07, phường TL, thành phố Thái Nguyên. Tại đây, Sự gặp và mua của một người nam giới không quen biết 01 gói ma túy, loại Heroine, với số tiền 100.000đ. Sau khi mua được số ma túy trên, Sự cất dấu gói ma túy trong túi áo khoác phía trước bên phải đang mặc trên người, rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng, thì bị tổ công tác của Công an phường TL, thành phố Thái Nguyên tiến hành kiểm tra phát hiện và bắt quả tang như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 102/CT-VKSTPTN, ngày 27/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo MẠC VĂN S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số 102/CT-VKSTPTN, ngày 27/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố: Bị cáo MẠC VĂN S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo mức án từ 21 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2023; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu S1 bên trong còn lại 0,223 gam ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu S2 bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu.
- Trả lại cho chị Lù Thị Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, BKS: 20B2-126.73
Ngoàiracònđềnghịvềphầnánphívàtuyênquyềnkhángcáotheoquyđịnhcủaphápluật.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng và thành người có ích cho xã hội.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, chị Lù Thị Đ trình bày: Ngày 12/01/2023, chị Đ có cho chồng MẠC VĂN S mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 20B2-126.73 để Sự đi giải quyết công việc, sau đó bị Công an thành phố Thái Nguyên bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ chiếc xe mô tô BKS: 20B2- 126.73. Khi cho MẠC VĂN S mượn chiếc xe trên, chị Đ không biết Sự sử dụng vào việcđi mua ma túy. Nay chị đề nghị HĐXX xem xét trả lại cho chị chiếc xe trên, để quản lý sử dụng.
Người chứng kiến: Ông Lê Hồng P trình bày: Khoảng 18 giờ 25, ngày 12/01/2023, ông Phong có việc đi qua ngõ 801, đường 3/2, thuộc tổ 07, phường TL, thành phố Thái Nguyên thì thấy có đông người tập trung, nên đã vào xem và được Tổ công tác của Công an phường TL, thành phố Thái Nguyên mời chứng kiến việc kiểm tra 01 nam thanh niên có biểu hiện liên quan đến ma túy. Quá trình kiểm tra người này khai tên là MẠC VĂN S, đồng thời tự giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng, Sự khai là ma túy loại Heroine, do Sự mua về để sử dụng cho bản thân. Sau đó tổ công tác đã tiến hành lập biên bản phạm pháp quả tang, thu giữ số ma túy do Sự giao nộp cùng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, rồi đưa Sự về cơ quan công an giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo MẠC VĂN S tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 18 giờ 15 phút, ngày 12/01/2023, tại tổ 07, phường TL, thành phố Thái Nguyên, MẠC VĂN S đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,243 gam ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy trên theo Sự khai là mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực ngã tư gần công ty Glonics Thái Nguyên, thuộc tổ 07, phường TL, thành phố Thái Nguyên với số tiền là 100.000đ.
Hành vi tàng trữ trái phép 0,243 gam ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân do MẠC VĂN S thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, Bản cáo trạng số 102/CT-VKSTPTN ngày 27/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Điều 249 của BLHS quy định:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)…….
c) Heroine…. Có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội do bị cáo thiếu lao động, tu dưỡng nên đã mắc nghiện ma túy, để phục vụ cho nhu cầu bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên.
[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:
- Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại: Tổ 05, phường CG, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; từ nhỏ được gia đình nuôi ăn học đến hết lớp 9/12, sau khi nghỉ học ở nhà, lớn xây dựng gia đình và lao động tại địa phương. Năm 2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, vẫn không có ý thức cải tạo, tu dưỡng mà tiếp tục lao vào vòng tội lỗi – Bị cáo là người có nhân thân xấu.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình – Do đó bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích, nhưng lại phạm tội do cố ý, nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đó là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[5]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, HĐXX thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Mức án mà đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS, thì:
“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy không có nghề nghiệp, công việc thu nhập ổn đinh, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung phạt bị cáo.
[7]. Việc xử lý đối tượng liên quan đến vụ án: Liên quan đến vụ án này còn có đối tượng có hành vi bán trái phép chất ma túy cho MẠC VĂN S, tuy nhiên do Sự không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở để điều tra làm rõ. Đối với chị Lù Thị Đ là người đã cho bị cáo mượn chiếc xe mô tô BKS: 20B2- 126.73, sau đó bị cáo sử dụng vào việc đi mua ma túy. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định khi cho mượn chiếc xe trên, chị Đ không biết bị cáo Sự sử dụng vào việc phạm tội, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không xử lý đối với chị Lù Thị Đ là phù hợp.
[8]. Về vật chứng vụ án:
Đối với vật chứng gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu S1, bên trong chứa 0,223 gam ma túy và 01 vỏ bao gói mẫu hoàn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu S2 bên trong chứa vỏ bao gói ban đầu, - Xác định là vật cấm lưu thông, không còn giá trị sử dụng nên cần xử lý tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, BKS: 20B2- 126.73, thu giữ của bị cáo khi bắt quả tang – Xác định là tài sản hợp pháp của chị Lù Thị Đ, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần xử lý trả lại cho chủ sở hữu là chị Lù Thị Đ quản lý sử dụng.
[9]. Về chi phí tố tụng: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]. Quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Các Điều 329, 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Về tội danh và hình phạt:
2.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo MẠC VĂN S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo MẠC VĂN S 22 (Hai mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2023.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo công tác thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu S1 bên trong còn lại 0,223 gam ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu S2 bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu.
- Trả lại cho chị Lù Thị Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, BKS: 20B2-126.73.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng số 279, ngày 03/4/2023 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQS14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo MẠC VĂN S phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo (MẠC VĂN S) có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (chị Lù Thị Đ) vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND thành phố Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên - Công an thành phố Thái Nguyên; - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên; - Bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - UBND phường CG, TP. Thái Nguyên; - Lưu hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Cần |