vanban.org

Bản án 91/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội Tuyên án 08/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 28 (Hai mươi tám) tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Về hình phạt bổ sung: Không. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 28 (Hai mươi tám) tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2023/HSST
Ngày 08-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quang Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Minh Long

Bà Nguyễn Thị Kim Hoa

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lê Đình Vượng - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2023/QĐXXST-HS ngày 29/5/2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T - Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1994; ĐKHKTT: Bằng T, xã Phú L, huyện Đoan H, tỉnh Phú E; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; con ông: Nguyễn Văn C và con bà: Đào Thị Thu H; vợ: Phạm Thị Thảo, có 02 con: Con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016; TATS: Theo danh chỉ bản số 130 ngày 23/02/2023 do Công an huyện K lập và lý lịch bị can thì bị cáo có 01 tiền án: Ngày 21/10/2019, Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 07 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản; chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/02/2020; bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 16/3/2021.

Bị can bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 15/02/2023, chuyển tạm giam ngày 23/02/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội; có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Cù Đức E, sinh năm 1980; trú tại: Khu 7, xã V, huyện H, tỉnh Phú E; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 15/02/2023, khi Nguyễn Văn T đang ở S, Bắc Ninh thì Cù Đức E gọi điện thoại từ số 0382.852.044 gọi đến số điện thoại 0327.757.990 của T hỏi mua 04 gói ma túy Heroin với giá 400.000 đồng. T đồng ý hẹn giao dịch ở khu vực hầm đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên thuộc địa phận L, T, K, Hà Nội. Sau đó, T điều khiển xe máy Yamaha Nouvo, BKS 99D1-x.81 lên khu vực S, Bắc Ninh tìm mua ma túy. Khi đến khu vực S, Bắc Ninh, T gặp và mua 04 gói ma túy với giá 200.000 đồng của một người đàn ông không quen biết đứng ở ven đường. Sau khi mua được ma túy, T đi đến điểm hẹn bán ma túy cho Cù Đức E. Khi đến điểm hẹn, T chuẩn bị giao ma túy cho E thì bị cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện bắt giữ cùng vật chứng.

Tại Bản kết luận giám định số 938/KL-KTHS ngày 22/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 04 gói giấy có dòng kẻ đều là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng: 0,120 gam.

Tại bản cáo trạng số: 94/CT-VKSGL ngày 23/5/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo mức án từ 26 đến 30 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2023.

- Về hình phạt bổ sung: Không.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Đề nghị:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon màu trắng bên trong có 04 gói giấy màu trắng có dòng kẻ là ma túy loại heroin có khối lượng: 0,110 gam do Phòng PC09 - Công an thành phố Hà Nội lấy mẫu giám định: 0,010 gam;

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 400.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Promax, màu trắng bên trong lắp sim liên lạc số: 0327757990, máy cũ đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu vàng đen, bên trong lắp sim liên lạc số: 0382852044, máy cũ đã qua sử dụng;

+ Trả lại cho anh Cũ Đức E số tiền 30.000 đồng.

Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

* Về tố tụng:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn nhận tội và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng huyện K là hợp pháp.

* Về tội danh:

. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, bản Kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 35 phút ngày 15/02/2023, tại L, T, K, Hà Nội, bị cáo Nguyễn Văn T đang có hành vi bán trái phép 0,120 gam Heroin cho Cù Đức E thì bị cơ quan Công an bắt quả tang cùng vật chứng.

. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất may túy”; tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

. Viện Kiểm sát nhân dân huyện K đề nghị truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã cố ý trực tiếp xâm phạm sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Do vậy, cần phải nghiêm trị đối với bị cáo.

* Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

. Về tình tiết tăng nặng: Nhân thân của bị cáo đã có 01 tiền án: Ngày 21/10/2019, Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 07 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản; chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/02/2020; bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 16/3/2021. Tiền án trên của bị cáo đã đương nhiên được xóa theo luật định.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

* Về việc áp dụng hình phạt:

. Xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội cùng nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt nhằm cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nhận định ở trên là có căn cứ.

* Về hình phạt bổ sung:

. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

* Về xử lý vật chứng:

. Thu giữ 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 promax, màu trắng, bên trong lắp sim liên lạc số: 0327757990, máy cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T, T khai nhận sử dụng để trao đổi mua bán trái phép chất ma túy và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu vàng đen, bên trong lắp sim liên lạc số: 0382852044, máy cũ đã qua sử dụng của Cù Đức E, E khai nhận sử dụng để để trao đổi mua bán trái phép chất ma túy nên cần cho tịch thu sung công quỹ Nhà nước 02 chiếc điện thoại trên là có căn cứ.

. Thu giữ số tiền 430.000 đồng của Cù Đức E: E khai nhận tiền do lao động mà có, trong đó số tiền 400.000 đồng là tiền E sử dụng để mua ma túy của T nên cần cho tịch thu sung công quỹ Nhà nước; số tiền còn lại 30.000 đồng không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho Cù Đức E là có căn cứ.

* Về các vấn đề khác:

. Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Văn T, do không xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

. Đối với Cù Đức E mua ma túy của Nguyễn Văn T để sử dụng nhưng chưa đưa cho T tiền mua ma túy, chưa nhận được ma túy, hành vi của E chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.

. Chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, BKS: 99D1-x81, số khung: 419921, số máy: 419924, xe cũ đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn T, quá trình điều tra xác định chiếc xe máy là của chị Nguyễn Thị Thúy- SN 1977 ở tổ 8, Trưng Trắc, TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc là mẹ vợ của T. Tháng 02/2023, chị Thúy cho T mượn chiếc xe máy trên để đi làm; việc T sử dụng chiếc xe máy của chị Thúy để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, chị Thúy không biết. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe máy nêu trên cho chị Nguyễn Thị Thúy là có căn cứ.

* Về án phí:

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Về quyền kháng cáo:

. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 28 (Hai mươi tám) tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/02/2023.

2. Về hình phạt bổ sung: Không.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon màu trắng bên trong có 04 gói giấy màu trắng có dòng kẻ là ma túy loại heroin có khối lượng: 0,110 gam do Phòng PC09 - Công an thành phố Hà Nội lấy mẫu giám định: 0,010 gam;

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 400.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Promax, màu trắng bên trong lắp sim liên lạc số: 0327757990, máy cũ đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu vàng đen, bên trong lắp sim liên lạc số: 0382852044, máy cũ đã qua sử dụng;

+ Trả lại cho anh Cù Đức E số tiền 30.000 đồng.

(Hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K theo Biên lai thu tiền số AA/2020/0055458 ngày 24/5/2023 và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/5/2023).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ