- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47, 48; Điều 56 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2023/HS-ST Ngày: 30 – 3 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Thiện;
2. Bà Lê Thị Nguyệt.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Cảnh Khang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Thị Bích T, sinh năm 1990 tại tỉnh Long An; nơi thường trú: Ấp 4, xã L, huyện CG, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị P (đã chết); bị cáo có 02 người con sinh năm 2020 và 2022;
Tiền án:
- Ngày 22/8/2014, bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo bản án số 119/2014/HSST, chấp hành án xong ngày 18/9/2018.
- Ngày 24/5/2021, bị Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 220/2021/HS-ST, được hoãn thi hành án theo Quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù số 01/2022/QĐ-CA ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện CG, tỉnh Long An.
Tiền sự: Không;
Được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/7/2022 đến ngày 17/8/2022 bị bắt đi chấp hành án đối với Bản án số 220/2021/HSST ngày 24/5/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại Trại giam Long Hòa, tỉnh Long An. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đỗ Phước N, sinh năm 1996; nơi cư trú: 542 ĐXH, khu phố 1, phường PB, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 01 giờ 45 phút ngày 06/7/2022, Tổ Cảnh sát Cơ động thuộc Phòng PK02 Công an tỉnh Bình Dương tiến hành tuần tra kiểm soát trên tuyến đường LTT, khi đến trước địa chỉ số 1/30 đường LTT, khu phố BPA, phường BC, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương phát hiện Đỗ Phước N đang ngồi trên xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Suzuki ViVa, biển số 59G2-051.49 nên tiến hành kiểm tra hành chính theo quy định. Trong lúc lực lượng Công an đang kiểm tra N, thì Lê Thị Bích T đi bộ từ trong đường hẻm số 81 ra, nhìn thấy lực lượng Công an nên T lấy từ trong túi áo khoác màu hồng (phía trước bên trái) đang mặc ra 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng được gấp lại ném xuống đất ngay vị trí T đứng thì bị tổ tuần tra kiểm tra phát hiện bên trong tờ tiền có 01 túi nylon miệng kéo dính và 01 gói nylon hàn kín đều chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy tổng hợp). T khai nhận số tinh thể màu trắng trên là ma túy đá của T cất giấu để sử dụng, N không biết T cất giấu ma túy trong người nên Tổ tuần tra tiến hành lập biên bản chuyển hồ sơ cùng tang vật cho Công an thành phố Thuận An giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, bị cáo Tuyền khai nhận vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 06/7/2022, T nhờ Đỗ Phước N chở T từ Thành phố Hồ Chí Minh qua tỉnh Bình Dương để đi công việc thì N đồng ý. Khi N điều khiển xe mô tô biển số 59G2-051.49 chở bị cáo T đến khu vực Thuận An Hòa, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, T nói N dừng xe đợi T đi lấy đồ, sau đó bị cáo Tuyền đi bộ vào trong đường Thuận An Hòa sử dụng điện thoại nhãn hiệu OPPO màu đen, kèm sim số 0906.377.297 gọi vào số điện thoại của một đối tượng nam hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá thì người này đồng ý và nói T để tiền vào viên gạch rồi lấy ma túy được cất giấu trong một tờ tiền mệnh giá 1000 đồng được gấp lại, T mở tờ tiền ra thấy bên trong có chứa 02 gói ma túy nên cất giấu vào túi áo khoác (phía trước bên trái) T đang mặc rồi đi bộ ra chỗ N đang đợi tiếp tục điều khiển xe mô tô trên chở T về đến đoạn đường LTT thuộc khu phố BPA, phường BC, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, T nói N dừng xe lại để T đi vệ sinh, khi đi vệ sinh xong quay ra thì thấy lực lượng Công an đang kiểm tra N, T sợ bị phát hiện nên đã ném tờ tiền bên trong chứa ma túy xuống đất thì bị lực lượng Công an phát hiện như trên.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, được gấp lại, bên trong có băng keo đen quấn 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng và 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy tổng hợp); 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Suzuki ViVa, biển số 59G2-051.49; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen (tình trạng đã qua sử dụng) kèm sim số 0906.377.297.
Kết luận giám định số: 332/KL-KTHS(MT) ngày 14/7/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận:
01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, là ma túy có khối lượng 0,1216 gam, loại Methamphetamine;
01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng, là ma túy có khối lượng 0,1425 gam, loại Methamphetamine.
Tổng khối lượng là 0,2641 gam, loại Methamphetamine.
Cáo trạng số: 70/CT-VKS-TA ngày 21/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Lê Thị Bích T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị Bích T từ 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
+ Đối với số ma túy còn lại sau giám định chứa trong 01 bì thư đã niêm phong ký hiệu 332/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy.
+ Đối với 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Suzuki ViVa, biển số 59G2-051.49, do Đỗ Phước N điều khiển, quá trình điều tra xác định chiếc xe này do bà Phan Nguyễn Thảo Uyên, sinh năm 1975 đứng tên chủ sở hữu. Hiện tại, bà Uyên không còn sinh sống tại địa chỉ trên mà đã xuất cảnh sang Hoa Kỳ để điều trị bệnh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An chưa tiến hành làm việc được với bà Nguyễn Thảo Uyên để làm rõ nguồn gốc chiếc xe mô tô trên nên đề nghị tiếp tục giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An sẽ tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
+ Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, kèm sim số 0906.377.297, quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại kèm sim số trên là phương tiện bị can T đã sử dụng để liên lạc mua ma túy nên đề nghị tịch thu vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo Lê Thị Bích T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và thống nhất với Bản kết luận điều tra và Cáo trạng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
[1.1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra truy tố, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[1.2] Bị cáo Tuyền có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt với lý do bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Long Hòa, việc trích xuất di chuyển khó khăn, mất nhiều thời gian và công sức. Xét thấy, bị cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt là tự nguyện, không bị ai ép buộc, yêu cầu này của bị cáo phù hợp với quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật tố tụng Hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị cáo Lê Thị Bích T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
[2.1] Vào khoảng 01 giờ 45 phút ngày 06/7/2022, tại khu vực đường LTT thuộc khu phố BPA, phường BC, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, bị cáo Lê Thị Bích T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, khối lượng 0,2641 gam, loại Methamphetamine, thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
[2.2] Ngày 22/8/2014, bị cáo Tuyền bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chấp hành án xong ngày 18/9/2018, chưa được xóa án tích. Ngày 24/5/2021, bị Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm, bị cáo được tạm hoãn thi hành án do đang mang thai, đến ngày 06/7/2022 lại tiếp tục có hành vi phạm tội nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, hành vi của bị cáo Lê Thị Bích T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự, trị an tại địa phương và thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng của con người đồng thời là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, tạo nên gánh nặng cho xã hội. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là cao so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử điều chỉnh cho phù hợp.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Đối với số ma túy còn lại sau giám định chứa trong 01 bì thư đã niêm phong ký hiệu 332/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Suzuki ViVa, biển số 59G2-051.49, do Đỗ Phước N điều khiển, quá trình điều tra xác định chiếc xe này do bà Phan Nguyễn Thảo Uyên, sinh năm 1975 đứng tên chủ sở hữu. Hiện tại, bà Uyên không còn sinh sống tại địa chỉ trên mà đã xuất cảnh sang Hoa Kỳ để điều trị bệnh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An chưa tiến hành làm việc được với bà Nguyễn Thảo Uyên để làm rõ nguồn gốc chiếc xe mô tô trên nên cần tiếp tục giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An sẽ tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, kèm sim số 0906.377.297, quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại kèm sim số trên là phương tiện bị can T đã sử dụng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu vào ngân sách Nhà nước.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, khi nào xác định được sẽ xử lý sau. Đối với Đỗ Phước N, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An xác định N không biết T tàng trữ ma túy trong người nên không có căn cứ để khởi tố hình sự. Tuy nhiên, kết quả xét nghiệm tại Trung tâm y tế thành phố Thuận An xác định Đỗ Phước N có nghiện ma túy, sử dụng ma túy loại Methamphetamine. Do đó, Công an thành phố Thuận An đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đỗ Phước N là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47, 48; Điều 56 của Bộ luật Hình sự;
- Điều 106, Điều 136, điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lê Thị Bích T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Bích T 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 220/2021/HS-ST ngày 24/5/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2022.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định chứa trong 01 bì thư đã niêm phong ký hiệu 332/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.
- Tịch thu, sung và ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, kèm sim số 0906.377.297
- Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Suzuki ViVa, biển số 59G2-051.49, số khung: RLSBF4611F0312876, số máy: AEP2219992 để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/02/2023).
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Cơ quan CSĐT và Cơ quan THAHS Công an thành phố Thuận An; - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác; - Lưu: HS, THAHS, AV. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Quang Ngọc Nhân |