- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA Bản án số: 91/2023/HS-ST Ngày: 09-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Luận
Ông Phạm Văn Tiến
- Thư ký phiên tòa: Trần Minh Phương - Thư ký Tòa án TP Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Quỳnh Trang - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 104/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2022/QĐXXST - HS ngày 30 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Đức A - sinh năm 1994 tại Thanh Hóa. Nơi cư trú: H, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Đức N (đã chết) và bà: Hoàng Thị H; Tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: ngày 09/11/2022; tạm giam: ngày 15/11/2022 tại nhà tạm giữ Công an thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10h30 ngày 09/11/2022, tại đường H, phường B, thành phố T. Tổ công tác Công an phường Ba Đình, thành phố Thanh Hóa phát hiện bắt quả tang Lê Đức A có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra, thu giữ của Đức A 01 gói ni long màu trắng, bên trong chứa 05 viên nén hình tròn màu hồng. Đức A khai đó là ma túy, mua về để sử dụng.
Tại cơ quan điều tra Đức A khai nhận: Do bản thân sử dụng ma túy nên khoảng 09h ngày 09/11/202, Đức A một mình đi bộ đến trước cổng trường Đ, phường B, thành phố T tìm mua ma túy loại hồng phiến để sử dụng. Tại đây, Đức A gặp một nam thanh niên khoảng 25 tuổi (chỉ biết mặt nhưng không biết tên và địa chỉ của người này) hỏi mua được 05 viên ma túy với giá 400.000đ. Sau khi mua được ma túy, Đức A cất giấu vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long mang về nhà để sử dụng. Khi về trước nhà tại địa chỉ H, phường B thì bị tổ công tác Công an phường Ba Đình, thành phố Thanh Hóa kiểm tra. Đức A ném số ma túy xuống đất nhưng bị phát hiện, bắt giữ.
Khám xét nơi ở của Lê Đức A nhưng không phát hiện thu giữ được gì.
Tại bản kết luận giám định số 3989/KL-KTHS ngày 14/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh hoá kết luận: 05 viên nén hình tròn, màu hồng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,504g (không phẩy năm không bốn gam) loại Methamphetamin.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đức A nhưng Đức A không biết tên, địa chỉ của này. Ngoài lời khai của Đức A không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Tại bản cáo trạng số 61/CT-VKS ngày 10 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố bị cáo Lê Đức A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 15 đến 18 tháng tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án thấy đủ cơ sở chứng minh: Vào khoảng 10h30 ngày 09/11/2022, tại trước số nhà H, phường B, thành phố T. Lê Đức A có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng 0,504gam loại Methamphetamin.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của Lê Đức A có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở và đúng pháp luật.
Tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Mặc dù dị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng do xem thường pháp nên bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an chung cần phải xử lý nghiêm minh để giáo dục và phòng ngừa chung.
Trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Mặc dù bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng với tính chất nghiêm trọng của loại tội phạm về ma túy, mức độ hành vi phạm tội thì việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên khi áp dụng hình phạt cần căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Do bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng, không có tính chất vụ lợi nên không cần phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Toàn bộ số ma túy thu của bị cáo được niêm phong bằng phong bì thư là vật nhà nước cấm lưu hành, sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy. Căn cứ vào khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Lê Đức A 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 09/11/2022.
Về vât chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong bằng phong bì thư của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Số ma túy trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 55/2023/THA ngày 10/01/2023).
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TPTH; - Công an TPTH; - TAND tỉnh TH - VKSND tỉnh TH - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Thủy |