vanban.org

Bản án 91/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Điện Biên Tuyên án 17/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1. Bị cáo Hờ A L (tên gọi khác: không) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Bị cáo Lò Văn H (tên gọi khác: không) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý như sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hờ A L và đồng phạm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1. Bị cáo Hờ A L (tên gọi khác: không) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2023/HS-ST
Ngày: 17-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Khuyên

Ông Lò Văn Sinh

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Vân Anh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: ông Lê Thanh Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2023/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 7 năm 2023 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 101/TB-TA, ngày 04 tháng 8 năm 2023, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 104/TB-TA, ngày 09 tháng 8 năm 2023, Quyết định trưng cầu người phiên dịch số 09/2023/QĐ-CA, ngày 25/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đối với các bị cáo:

1. Hờ A L (tên gọi khác: không), sinh ngày 29/01/1985, tại huyện B, tỉnh Điện Biên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Bản A, xã U, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hờ Vảng T, sinh năm 1966 và bà Sủng Thị N, sinh năm 1967; vợ Ly Thị M, sinh năm 1986 và 01 con sinh năm 2004; Tiền án: không, Tiền sự: không; Nhân thân: Chưa bị kết án và năm 2021 bị TAND huyện Đ, tỉnh Điện Biên quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 20 tháng; Bị cáo bị tạm giữ ngày 10/3/2023, tạm giam từ ngày 19/3/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Lò Văn H (tên gọi khác: không), sinh ngày: 04/3/1991, tại huyện Đ Đông, tỉnh Điện Biên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: bản T, xã U, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn N, sinh năm: 1955 và bà Lò Thị P, sinh năm: 1958; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: Chưa bị kết án và chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/3/2023, tạm giam từ ngày 19/3/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Hờ A L do trung tâm trợ giúp pháp lý cử: bà Nguyễn Thị Thu H, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Điện Biên, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Lò Văn C - Sinh ngày: 05/8/1993; địa chỉ: bản I , xã K, huyện Đ tỉnh Điện Biên, vắng mặt không có lý do.

- Bà Ly Thị M - Sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: bản A, xã U, huyện Đ tỉnh Điện Biên, có mặt.

Người chứng kiến: ông Sùng A C - Sinh năm: 1989; địa chỉ: bản A, xã U, Huyện Đ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt không có lý do.

Người phiên dịch: ông Giàng A Ch - Sinh ngày: 03/6/2000; địa chỉ cư trú: Đội 19, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 06/3/2023, bị cáo Hờ A L đi bộ từ nhà ở bản A, xã U, huyện Đ tỉnh Điện Biên với mục đích tìm mua ma tuý để trả công cho người làm thuê và ai hỏi mua thì bán. Khoảng 14 giờ cùng ngày, bị cáo L đến khu vực bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì gặp Sùng A T (T là đối tượng nghiện ma tuý và là người L đã quen biết trước đây), sau khi trao đổi bị cáo L đưa cho T 06 triệu đồng nhờ mua hộ Heroine; T nhận tiền và bảo L chờ. Khoảng 01 giờ đồng hồ sau T quay lại đưa cho bị cáo L 01 bọc nilon màu vàng và cho biết chỉ mua được 4,5 triệu đồng Heroine, còn 1,5 triệu đồng mua được Hồng phiến. Bị cáo L nhận bọc nilon màu vàng và mở ra kiểm tra thấy bên trong có 01 túi nilon màu xanh chứa các viên Hồng phiến màu hồng và 01 gói nilon màu trắng chứa các cục Heroine màu trắng. Kiểm tra xong bị cáo L lấy một ít Heroine và 02 viên Hồng phiến trả công cho T, số còn lại bị cáo L mang về nhà và cất giấu trong tủ sắt ở góc nhà của gia đình. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 10/3/2023, bị cáo L đang đứng ở sân trước nhà thì Lò Văn H trú tại bản T, xã U, huyện Đ, tỉnh Điện Biên đến hỏi mua Heroine và đưa cho L 150.000 đồng; bị cáo L nhận tiền rồi vào trong nhà lấy gói Heroine cất giấu trong tủ sắt, dùng tay bẻ một ít Heroine (khoảng bằng đầu đũa ăn cơm) mang ra đưa H, H nhận ma tuý xong thì đi vào nhà vệ sinh của gia đình bị cáo L, bị cáo không biết Hưng vào đó làm gì. Khoảng 10 đến 20 phút sau, bị cáo L thấy một người đàn ông dân tộc Khơ Mú (sau khi bị bắt bị cáo biết tên là Lò Văn C trú tại bản S1, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên) đến hỏi mua Heroine, Ch đưa cho bị cáo L 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, bị cáo L nhận tiền và bảo Ch đứng đợi ở sân; sau đó bị cáo L đi vào trong nhà lấy ma tuý số lượng bằng ½ so với lượng ma tuý đã bán cho H mang ra đưa cho Ch; Ch nhận ma tuý xong thì đi vào nhà vệ sinh của gia đình bị cáo L, bị cáo không biết Ch vào đó làm gì. Sau khi bán ma tuý cho H và Ch, bị cáo L vào trong nhà dùng kéo chia số Heroine mua trước đó thành 19 gói rồi dùng mảnh nilon màu xanh gói số Heroine vừa chia cùng với túi Methamphetamine mang cất giấu trong tủ sắt, số Heroine còn lại bị cáo L để ở mặt bàn uống nước của gia đình. Khoảng 07 giờ cùng ngày, khi bị cáo L cầm gói Heroine trên mặt bàn uống nước định mang đi cất giấu thì bị Công an huyện Đ phát hiện bắt giữ, gói Heroine trên có khối lượng 24,20 gam và thu giữ 250.000 đồng tiền bị cáo L bán ma tuý cho H và Ch. Cùng lúc đó, Công an cũng bắt giữ bị cáo Lò Văn H và thu giữ 02 gói Heroine có khối lượng 0,37 gam tại gót giầy bên phải; thu giữ của Lò Văn Ch 01 chiếc xi lanh bằng nhựa. Theo lời khai của bị cáo Lò Văn H và ông Lò Văn Chiêu: trước đó, sau khi mua được Heroine, bị cáo H đi ra nhà vệ sinh phía sau nhà L bẻ cục Heroine vừa mua làm 02 phần và nhặt mảnh nilon màu trắng gói lại thành 02 gói rồi cất giấu trong gót chiếc giầy bên phải mục đích để sử dụng dần; còn Lò Văn Ch sau khi mua được Heroine, Ch pha toàn bộ số Heroine với nước rồi cho vào xi lanh sử dụng bằng hình thức trích tại nhà vệ sinh phía sau nhà bị cáo L.

Vào lúc 11 giờ 35 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo Hờ A L, thu giữ được 19 gói Heroine có tổng khối lượng 5,10 gam cùng 86 viên Methamphetamine có tống khối lượng 8,17 gam và 24.520.000 đồng trong tủ sắt đặt ở góc nhà.

Tại bản Kết luận giám định số: 474/KL-KTHS, ngày 17/3/2023, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn H là 0,37 gam; mẫu chất bột màu trắng đục trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn H gửi giám định là chất ma tuý: Loại Heroine.

Tại bản Kết luận giám định số: 476/KL-KTHS, ngày 17/3/2023, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Hờ A L gồm 29,30 gam cục bột màu trắng; 8,17 gam các viên nén màu hồng; 02 mẫu chất bột màu trắng đục ký hiệu M1, M2 trích ra từ vật chứng thu giữ của Hờ A L gửi giám định là chất ma tuý: Loại Heroine. Mẫu các viên nén màu hồng được ký hiệu M3 trích ra từ vật chứng thu giữ của Hờ A L gửi giám định là chất ma tuý: Loại Methamphetamine.

Tại kết luận giám định số 477/KL-KTHS, ngày 19/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: số tiền 250.000 đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng) gồm: 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng gửi giám định là tiền thật.

Cáo trạng số 59/CT-VKS-P1 ngày 03/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Hờ A L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Lò Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Hờ A L và bị cáo Lò Văn H, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm như sau:

- Tuyên bố bị cáo Hờ A L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hờ A L từ 15 năm đến 16 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

- Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng như sau: tịch thu tiêu hủy 7,89 gam Methamphetamine và 28,75 gam Heroine (đã trừ mẫu vật gửi giám định) + 01 chiếc kéo dài khoảng 22 cm + 01 bơm kim tiêm; Trả lại cho bị cáo Hờ A L các vật sau: 01 cân điện tử có chữ POCKETSCALE + 01 túi vải màu đen có chữ Youtube. Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 250.000 đồng thu giữ của Hờ A L. Về án phí, đề nghị áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Hờ A L và Lò Văn H.

Người bào chữa cho bị cáo Hờ A L không có ý kiến tranh luận về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố và bản luận tội của Kiểm sát viên. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: bị cáo phạm tội do bản thân không có nghề nghiệp, là người nghiện ma túy; trong quá trình điều tra truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo. Đồng thuận với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí.

Người chứng kiến ông Sùng A C trình bày tại cơ quan điều tra: khoảng 8 giờ ngày 10/3/2023, ông C được Công an huyện Đ Đông mời đến chứng kiến việc lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hờ A L và Lò Văn H; thu giữ, tạm giữ và niêm phong vật chứng đối với Hờ A L, Lò Văn H, Lò Văn Chiêu. Ngoài ra ông C còn được chứng kiến việc Công an khám xét nơi ở của Hờ A L. Ông nghe thấy Hờ A L khai nhận các gói nilon màu trắng bên trong chứa các cục chất bột màu trắng là Heroine, L cất giấu để bán lẻ và thuê người nghiện làm nương; đồng thời L cũng giao nộp số tiền 250.000 đồng, L khai nhận là tiền vừa bán ma túy cho Lò Văn H và Lò Văn Ch. Ông C cũng nghe thấy Lò Văn H khai nhận với tổ công tác 02 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng thu giữ trong gót giầy bên phải của H là Heroine, H vừa mua của L với giá 150.000 đồng. Ông Sùng A C cũng nhìn thấy tổ công tác thu giữ 01 bơm kim tiêm bằng nhựa của Lò Văn Ch, Ch khai vừa sử dụng bơm tiêm để sử dụng toàn bộ số ma túy mà Chiêu mua được của L với giá 100.000 đồng. Ngoài ra quá trình khám xét khẩn cấp nhà Hờ A L, tổ công tác Công an huyện Đ còn thu được 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa một túi nilon màu xanh chứa 86 viên nén màu hồng; 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa 19 gói nilon các màu trắng, hồng, xanh, vàng (gồm 12 gói nilon màu trắng, 05 gói nilon màu hồng, 01 gói nilon màu xanh và 01 gói nilon màu vàng) bên trong các gói nilon đều chứa chất bột màu trắng đục nghi là Heroine. Hờ A L khai với tổ công tác, số viên nén màu hồng là ma túy tổng hợp, số cục chất bột màu trắng là Heroine, Ly cất giấu để bán lẻ và trả công người làm nương thuê. Việc bắt giữ Hờ A L, Lò Văn H và thu giữ vật chứng của tổ công tác thực hiện công khai, khách quan, đúng quy định của pháp luật. Việc khai báo của Hờ A L, Lò Văn H là tự nguyện, không ai ép buộc hay đánh đập.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Lò Văn Ch trình bày tại cơ quan điều tra: khoảng 06 giờ 50 phút ngày 10/3/2023, Ch đi vào nhà Hờ A L tại bản A, xã U huyện Đ, tỉnh Điện Biên để mua ma túy sử dụng. Lò Văn Ch hỏi Hờ A L và mua được 100.000 Heroine, sau khi mua được ma túy Ch sử dụng hết ngay tại nhà vệ sinh của L; sau đó lực lượng Công an vào phát hiện, bắt quả tang đối với Hờ A L, Lò Văn H và thu 01 bơm kim tiêm bằng nhựa của Ch.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Ly Thị M trình bày: ngày 10/3/2023, khi Cơ quan Công an huyện Điện Biên Đông thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của vợ chồng tôi và thu giữ trong tủ sắt của gia đình 01 cân điện tử màu đen và ma túy, về nguồn gốc số ma túy và chiếc cân bị thu giữ chị M không biết Hờ A L lấy ở đâu về. Ngoài cán bộ công an còn thu giữ trong túi vải màu đen để trong tủ số tiền 22.900.000 đồng là tiền bán sắn của gia đình; cán bộ còn thu giữ số tiền 1.620.000 đồng của Hờ A L. Ngày 29/5/2023, chị M đã nhận lại số tiền 24.520.000 đồng do cán bộ công an tỉnh Điện Biên trao trả.

Trong phần tranh luận: Người bào chữa cho bị cáo Hờ A L và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến đối đáp với đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên. Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, các bị cáo cũng không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh về tội danh cũng như hình phạt; trong lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo Lò Văn H và hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Hờ A L:

Qua tranh tụng công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định như sau:

Với mục đích tìm mua ma tuý để trả công cho người làm thuê và ai hỏi mua thì bán nên khoảng 14 giờ ngày 06/3/2023, bị cáo L đến khu vực bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên gặp Sùng A T. Bị cáo L nhờ T mua hộ 4,5 triệu đồng Heroine và 1,5 triệu đồng Methamphetamine. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 10/3/2023, bị cáo L bán 0,37 gam Heroine cho bị cáo Lò Văn H thu 150.000 đồng; khoảng 20 phút sau, bị cáo L tiếp tục bán 100.000 đồng Heroine cho Lò Văn Ch. Sau khi bán ma tuý cho H và Ch, bị cáo L vào trong nhà dùng kéo chia số Heroine mua trước đó thành 19 gói rồi dùng mảnh nilon màu xanh gói số Heroine vừa chia cùng với túi Methamphetamine mang cất giấu trong tủ sắt, số Heroine còn lại bị cáo L để ở mặt bàn uống nước của gia đình. Khoảng 07 giờ cùng ngày, thì bị Công an huyện Đ phát hiện bắt giữ, gói Heroine trên mặt bàn có khối lượng 24,20 gam và thu giữ 250.000 đồng là số tiền bị cáo L bán ma tuý cho H và Ch. Cùng lúc đó, Công an cũng bắt giữ bị cáo Lò Văn H và thu giữ 02 gói Heroine có khối lượng 0,37 gam tại gót giầy bên phải; thu giữ của Lò Văn Ch 01 chiếc xi lanh bằng nhựa. Vào lúc 11 giờ 35 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo Hờ A L, thu giữ được 19 gói Heroine có tổng khối lượng 5,10 gam cùng 86 viên Methamphetamine có tống khối lượng 8,17 gam và 24.520.000 đồng trong tủ sắt đặt ở góc nhà.

Lời khai của bị cáo H phù hợp với lời khai của bị cáo L; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01- 03); biên bản khám xét (BL 09-10, 11-15); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL 04, 05, 06, 07; 16, 17, 18; biên bản mở niêm phong và xác định khối lượng lấy mẫu giám định chất ma túy và niêm phong lại vật chứng (BL 64-67); kết luận giám định (BL 92, 93, 94-95); biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Ly Thị M, ông Lò Văn Ch; biên bản ghi lời khai của người chứng kiến ông Sùng A C (BL 208-209; 212-213; 225-226) và phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở để xác định bị cáo Lò Văn H mua 0,37 gam Heroine của bị cáo Hờ A L cất giấu trong người để sử dụng. Hành vi của bị cáo gây nguy hại lớn cho xã hội, đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Cũng có đủ sơ sở để xác định bị cáo Hờ A L đã bán 0,37 gam Heroine cho bị cáo Lò Văn H và nhận 150.000 đồng; cất giấu 29,30 gam Heroine và 8,17 gam Methamphetamine để bán lẻ tìm kiếm lợi nhuận. Hành vi của bị cáo gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy, khối lượng chất ma túy mà bị cáo L phải chịu trách nhiệm bao gồm số ma túy bị thu giữ tại nhà bị cáo L và 0,37 gam Heroine bị cáo L bán cho bị cáo H, tổng khối lượng 02 chất ma túy là 37,84 gam, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng 59/CT-VKS-P1 ngày 03/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn H, Hờ A L về tội danh, điểm, khoản, điều luật áp dụng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Khi mua được Heroine, Lò Văn Ch đã sử dụng hết, nên không xác định được khối lượng, không có đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Ch. Ngày 04/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC bằng hình thức cảnh cáo đồi với Ch về hành vi này là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội; vai trò của các bị cáo:

Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình bị Nhà nước nghiêm cấm. Hành vi của các bị cáo xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Hành vi của các bị cáo là một trong các nguyên nhân gây mất trật tự, an toàn xã hội. Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận: biết rõ việc Nhà nước cấm tất cả các hành vi mua bán, tàng trữ trái phép các chất ma túy, biết tác hại của ma túy với đời sống và sức khỏe của con người, nhưng để thỏa mãn nhu cầu ma túy của bản thân và tìm kiếm lợi nhuận mà các bị cáo cố ý thực hiện hành vi Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có tổ chức, không thuộc trường hợp đồng phạm.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo

Bị cáo Hờ A L không được đi học do gia đình khó khăn. Về nhân thân: năm 2021 bị TAND huyện Đ, tỉnh Điện Biên quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 20 tháng đến tháng 8/2022 chấp hành xong về địa phương sinh sống; bị cáo không có tiền sự. Về tình tiết tăng nặng: bị cáo có 02 lần bán ma túy, lần thứ nhất bán 0,37 gam Heroine cho bị cáo Lò Văn H thu được 150.000 đồng; lần thứ hai bán Heroine cho Lò Văn Ch thu được 100.000 đồng, về lần bán ma túy này do Lò Văn Ch đã sử dụng hết lên không thu được ma túy, tuy nhiên căn cứ vào vật chứng là số tiền 100.000 đồng thu được trong túi quần của bị cáo L, lời khai nhận của bị cáo L và Lò Văn Chi có đủ cơ sở để xác định hành vi bán ma túy của bị cáo Hờ A L, do đó bị cáo L phải bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Về các tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo về tình tiết “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Lò Văn H sinh ra và lớn lên trong gia đình dân tộc Thái, được gia đình tạo điều kiện cho đi học đến lớp 7/12 thì nghỉ học ở nhà lao động sản xuất. Về nhân thân bị cáo không có tiền sự; không có tiền án. Về các tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên áp dụng tình tiết “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Về hình phạt chính:

Từ các phân tích tại các đoạn [1], [2], [3], Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tù phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của mỗi bị cáo, hình phạt vừa mang tính răn đe, giáo dục vừa thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội đã ăn năn, hối cải. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên về hình phạt chính đối với các bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với đề nghị của Người bào chữa cho bị cáo L Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của cơ quan cảnh sát điều tra và qua tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, các bị cáo thuộc gia đình hộ nghèo, không có tài sản giá trị; các bị cáo không có việc làm và thu nhập thường xuyên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo Hờ A L đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo là phù hợp Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các vấn đề khác của vụ án:

Hờ A L khai nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ ở trên là do Ly nhờ Sùng A Tỉnh ở bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên mua hộ. Kết quả điều tra T không có mặt tại nơi cư trú, nên chưa có đủ căn cử để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Về vật chứng: áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý như sau:

- 8,17 gam Methamphetamine và 29,67 gam Heroine (đã trừ mẫu vật gửi giám định) là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 250.000 đồng thu giữ của Hờ A L vì đây là tiền do bị cáo phạm tội mà có.

- Đối với 01 chiếc kéo dài khoảng 22 cm + 01 bơm kim tiêm bằng nhựa là công cụ, phương tiện phạm tội và không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 cân điện tử có chữ POCKERTSCALE và 01 túi vải màu đen có chữ Youtube không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo L.

Qúa trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên đã trả lại cho chị Ly Thị M số tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 24.520.000 đồng theo Quyết định xử lý vật chứng số 06/QĐ-CSMT, ngày 29/5/2023. Việc xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên đúng quy định tại Điều 36 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí:

Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ Đông, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân nhân huyện Đ, Kiểm sát viên; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, Người bào chữa cho các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 251 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố:

1.1. Bị cáo Hờ A L (tên gọi khác: không) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hờ A L 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/3/2023.

1.2. Bị cáo Lò Văn H (tên gọi khác: không) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/3/2023.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý như sau:

* Tịch thu tiêu hủy các vật sau:

- 01 (một) gói niêm phong bằng phong bì công văn công an huyện Đ Đông, các mép dán được dán kín bằng keo dán giấy. Mặt trước phong bì có dán tờ giấy in dòng chữ đánh máy ghi: “Vật chứng còn lại vụ Hờ A L, sinh năm: 1985; trú tại bản A, xã U, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Bị Công an huyện Đ bắt quả tang ngày 10/3/2023 tại bản A, xã U, huyện Đ, tỉnh Điện Biên về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Vật chứng còn lại có khối lượng VC1= 23,66 gam nghi ma túy Heroine, VC2=4,87 gam nghi ma túy Heroine và VC3 83 viên (tám mươi ba) = 7,89 gam nghi Methamphetamine”. Mặt sau phong bì niêm phong tại hai mép dán có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của: Hờ A Súa, Cao Thị Á, Lò Văn H, Vũ Văn M, Hờ A L và hai hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ Đông, tỉnh Điện Biên giáp lai qua hai mép dán. Lớp ngoài cùng của phong bì niêm phong vật chứng được dán một lớp băng dính trong suốt bảo vệ.

- 01 gói niêm phong bằng phong bì công văn công an huyện Đ Đông, các mép dán được dán kién bằng keo dán giấy. Mặt trước phong bì có dán tờ giấy in dòng chữ đánh máy ghi: “Vật chứng thu giữ của Lò Văn H; sinh năm 1991; trú tại bản T, xã U, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Bị Công an huyện Đ Đông bắt quả tang ngày 10/3/2023, tại bản A, xã U, huyện Đ, tỉnh Điện Biên về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng còn lại có khối lượng = 0,22 gam nghi Heroine”. Mặt sau phong bì niêm phong có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của: Hờ A S, Cao Thị Á, Lò Văn H, Vũ Văn M, Lò Văn H, Hờ A L và hai hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên giáp lai qua hai mép dán. Lớp ngoài cùng của phong bì niêm phong vật chứng được dán một lớp băng dính trong suốt để bảo vệ.

- 01 gói niêm phong bằng phong bì bưu điện, các mép dán được dán kín bằng keo dán giấy. Mặt trước phong bì có dòng chữ viết tay ghi: “Chiếc bơm kim tiêm thu giữ của Lò Văn Ch, sinh năm 1993, trú tại bản I, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên bị Công an huyện Đ thu giữ ngày 10/3/2023 tại bản A, xã U, huyện Đ, tỉnh Điện Biên”. Mặt sau phong bì niêm phong có đầy đủ chữ ký và ghi rõ họ tên của: Hờ A Súa, Vừ A C, Sùng A C, Lò Văn Ch và hai hình dấ tròn đỏ của UBND xã Nong U, huyện Đ, tỉnh Điện Biên giáp lai qua hai mép dán. Lớp ngoài cùng của phong bì niêm phong được dán một lớp băng dính trong suốt để bảo vệ.

* Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước:

Số tiền 250.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên. Mặt trước phong bì niêm phong có in dòng chữ đánh máy: “Hoàn trả lại mẫu vật giám định 250.000 đồng gồm 03 tờ tiền vụ Hờ A L sinh năm: 1985; trú tại bản A, xã U, huyện Đ, tỉnh Điện Biên về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, theo KLGĐ số 477/KL-KTHS ngày 19/3/2023”. Mặt sau phong bì niêm phong các mép được dán kín và có chữ ký giáp lai ghi rõ họ, tên của Nguyễn Thành Đ, Giàng A T và đóng 02 dấu niêm phong màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên. Bên ngoài được dán một lớp băng dính trắng trong suốt để bảo vệ.

* Trả lại cho bị cáo Hờ A L:

- 01 chiếc cân điện tử màu đen có dòng chữ POCKETSCALE cũ đã qua sử dụng.

- 01 chiếc túi vải màu đen có quai đeo mặt ngoài có dòng chữ YouTube, túi cũ đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên và Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên ngày 03 tháng 7 năm 2023).

3. Về án phí: áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hờ A L và bị cáo Lò Văn H.

4. Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Hờ A L, bị cáo Lò Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Ly Thị M có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Lò Văn Ch có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ