- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 273MT/PC09 bên trong chứa chất ma túy và vỏ bao bì hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an th…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2023/HS-ST Ngày 29-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Kiểm
Ông Vũ Văn Khang
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Tô Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu T, sinh ngày 05/01/1970 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số 25 X đường Đ, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hữu T (đã chết) và bà Đỗ Thị T; bị cáo có vợ: Trần Thanh H (đã chết) và 01 con sinh năm 2002; tiền án: Bản án số 35/2009/HSST ngày 10/11/2009, Tòa án nhân dân huyện C xử 8 năm tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2016; chưa thi hành xong phần dân sự; Tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 29/HSPT ngày 30/3/1995, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng sửa Bản án số 10/HSST ngày 19/01/1995 của Tòa án nhân dân quận L xử 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân”; Bản án số 41/HSST ngày 05/5/1998, Tòa án nhân dân quận N, Hải Phòng xử 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; Bản án số 115/HSST ngày 13/8/2004, Tòa án nhân dân quận N, Hải Phòng xử 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đều đã xóa án tích); bị bắt, tạm giữ ngày 21/3/2023; tạm giam ngày 23/3/2023; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 21 tháng 3 năm 2023 tại đầu ngõ 317B đường Đ, phường V, quận N, Hải Phòng, Công an quận N, Hải Phòng bắt quả tang Nguyễn Hữu T có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng: Trong túi quần bên phải phía trước T đang mặc 01 gói nilon kích thước khoảng 1x2cm trong chứa chất bột màu trắng.
Khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Nguyễn Hữu T ở số 25 Đ31 đường Đ, phường Đ, quận N, Hải Phòng không thu giữ đồ vật tài sản gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Kết luận giám định số 273/KL-KTHS(MT) ngày 23 tháng 3 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,18 gam, loại Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hữu T khai nhận: Do nghiện ma túy heroine từ 2004 đến nay nên T nảy sinh ý định đi mua ma túy Heroine về để sử dụng. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21/3/2023, T đi bộ đến khu vực đường tàu B, Hải Phòng để tìm mua ma túy. Đến nơi, T mua của một người đàn ông không quen biết 200.000 đồng được 01 gói nilon kích thước khoảng 1x2cm trong chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroine. Mua được ma túy, T cất giấu vào túi quần bên phải phía trước đang mặc trên người rồi đi về tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, khi T đang đi đến khu vực đầu ngõ 317B đường Đ, phường V, quận N, Hải Phòng thì bị cơ quan Công an bắt quả tang cùng vật chứng.
Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong số 273MT/PC09 chứa ma túy và vỏ bao bì hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng.
Tại Bản Cáo trạng số 101/CT-VKSNQ ngày 15/6/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hữu T khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu T với mức án từ 30 đến 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 273MT/PC09 bên trong chứa chất ma túy và vỏ bao bì hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ, ngày 21/3/2023, tại khu vực đầu ngõ 317B đường Đ, phường V, quận N, Hải Phòng, Nguyễn Hữu T có hành vi cất giấu trái phép 0,18 gam Heroine chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác. Vì vậy cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm.
- Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có 04 tiền án: trong đó có 03 tiền án số 29/HSPT ngày 30/3/1995, án số 41/HSST ngày 05/5/1998 và án số 115/HSST ngày 13/8/2004 đều đã được xóa án tích; còn 01 tiền án số 35/2009/HSST ngày 10/11/2009 chưa được xóa án nên phạm tội lần này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
Do bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không cần thiết bắt bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về việc xử lý vật chứng:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 273MT/PC09 bên trong chứa chất ma túy và vỏ bao bì hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng.
- Về án phí:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho T chưa xác minh được lại lịch địa chỉ, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, có căn cứ sẽ xử lý sau nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Hữu T 30 (ba mươi) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 21/3/2023.
- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 273MT/PC09 bên trong chứa chất ma túy và vỏ bao bì hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận N, thành phố Hải Phòng.
- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Nguyễn Hữu T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND quận N; - Cơ quan điều tra Công an quận N; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận N; - Chi cục THADS quận N; - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; - PV 06 Công an thành phố Hải Phòng; - Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Huyền |