vanban.org

Bản án 91/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 18/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Trường hợp người được hưởng án thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị Ngọc L - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Trường hợp người được hưởng án thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2023/HS-ST
Ngày 18-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hạnh

2. Bà Hà Thị Nga

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trịnh Việt Anh, Cán bộ Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thư, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 346/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 426/TA-TA ngày 07 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Bùi Thị Ngọc L, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1958 tại Thái Bình. Nơi cư trú: Số 4/128 T, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Sinh T (đã chết) và bà Vũ Thị Y; không có chồng; có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 17/11/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 23/11/2022; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 16/11/2022 Tổ công tác HP 22 Công an quận Lê Chân làm nhiệm vụ tại tuyến đường Hồ Sen, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng phát hiện thấy Nguyễn Văn H, sinh năm 1979; trú tại: Số 44/19 C, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng đang đi bộ trên đường có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, thu giữ trong người H 02 tem ghi các số đề số bao tổng số tiền là 4.000.000 đồng. H khai khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày H đã đánh số đề số bao và nhận 02 tem đề trên của một người phụ nữ bán quán nước vỉa hè gần cửa nhà số 130 T, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng. Qua xác minh Bùi Thị Ngọc L chính là người phụ nữ bán hàng nước tại đây. H nhận dạng và xác nhận L là người bán đề cho mình.

Ngày 17/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã triệu tập Bùi Thị Ngọc L lên làm việc, L thừa nhận 02 tem đề thu giữ của Nguyễn Văn H chính là tem đề do L đã bán đề và giao cho khách vào ngày 16/11/2022, đồng thời giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 7 màu xanh, sử dụng vào việc mua bán số đề. Tiến hành kiểm tra điện thoại của L, trong ứng dụng zalo có tin nhắn từ tài khoản zalo của L có tên là “Buingoclien” gửi tới tài khoản zalo có tên “Hạt Mit” trong ngày 16/11/2022: hình ảnh 01 bảng đề tổng số tiền 2.395.000 đồng, 02 tem đề tổng số tiền là 4.000.000 đồng và tin nhắn đánh đề số tiền là 280.000 đồng.

Bùi Thị Ngọc L khai nhận: L bán số lô, số đề thuê cho một tài khoản zalo có tên là “Hạt Mit” (không rõ lai lịch địa chỉ) từ khoảng cuối năm 2020 để hưởng tiền hoa hồng theo mức số đề, số bao hưởng 05%, bao xiên hưởng 20% và ba càng hưởng 40% trên tổng số tiền khách mua. Người có tên tài khoản zalo “Hạt Mit” chủ động kết bạn zalo với L để L chuyển bảng đề, L không biết số điện thoại của người này. Khoảng 17 giờ hàng ngày, L ra vỉa hè gần nhà số 130 T, phường A, quận L để thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề với cách thức: Khi có người mua số lô, số đề, L sẽ ghi cụ thể số lô, số đề và số tiền người mua đề (được ghi giảm đi 1000 lần so với số tiền khách mua thực tế) vào tem đề đưa cho khách, L giữ lại bản sao giấy than, rồi L tổng hợp ghi vào bảng đề hoặc có khách đánh đề qua tin nhắn, đến 18 giờ L chụp gửi bảng đề và chuyển tin nhắn tới tài khoản zalo “Hạt Mit”, sau đó có một nam giới (không rõ lai lịch địa chỉ) đến thu tiền bán đề trong ngày và trả tiền hoa hồng cho L. Dựa vào kết quả sổ xố miền Bắc mở thưởng vào 18 giờ 30 phút hàng ngày để xác định thắng thua. Người mua số “Đề” (gồm 02 chữ số) sẽ so sánh với 02 số cuối của giải đặc biệt nếu trùng nhau sẽ thắng 90 lần số tiền đã mua. Người mua số “Ba càng” (gồm 03 chữ số) sẽ so sánh với 03 số cuối của giải đặc biệt nếu trùng nhau sẽ thắng 400 lần số tiền đã mua. Người mua số “Bao” (gồm 02 chữ số) sẽ so sánh với 02 số cuối cùng của tất cả các giải nếu trùng nhau sẽ thắng gấp 3,5 lần số tiền đã mua. Người mua số “Bao xiên đôi” (gồm 01 cặp số, mỗi số có 02 chữ số) sẽ so sánh với 02 số cuối cùng của tất cả các giải nếu cặp số khách mua trùng sẽ thắng gấp 14 lần số tiền đã mua; Người mua số “Bao xiên ba” (gồm bộ 03 số, mỗi số có 02 chữ số) sẽ so sánh với 02 số cuối cùng của tất cả các giải, nếu cả 03 số đều trùng sẽ thắng gấp 48 lần số tiền đã mua; Người mua số “Bao xiên bốn” (gồm bộ 04 số, mỗi số có 02 chữ số) sẽ so sánh với 02 số cuối cùng của tất cả các giải nếu cả 04 số đều trùng sẽ thắng gấp 180 lần số tiền đã mua. Nếu không trúng thì người mua sẽ mất số tiền bỏ ra mua số lô, số đề. Nếu có khách trúng thưởng thì người nam giới đến thu tiền bán đề của L lúc trước sẽ quay lại đưa tiền cho L để trả khách.

Trong ngày 16/11/2022 L đã bán được 01 bảng đề với số tiền là 2.395.000 đồng, 02 tem đề 4.000.000 đồng và tin nhắn gửi đến điện thoại đánh đề số tiền là 280.000 đồng. Bảng đề, tem đề và tin nhắn L đã gửi qua zalo cho tài khoản “Hạt Mit”, số tiền khách trúng thưởng là 1.350.000 đồng.

Nguyễn Văn H khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 16/11/2022 H đến quán nước của Bùi Thị Ngọc L nhờ một người nam giới tên Nam (chưa xác minh được lai lịch địa chỉ) đang uống nước tại đây mua hộ các số đề số bao tổng số tiền là 4.000.000 đồng. Người nam giới nhận 02 tem đề từ L rồi đưa lại cho H. H cất 02 tem đề vào túi quần đến khi lực lượng Công an kiểm tra thu giữ như trên.

Tại bản kết luận giám định số 151/KL-KTHS ngày 03/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Trong điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 7 màu xanh thu giữ của Bùi Thị Ngọc L tìm thấy 6713 cuộc gọi, 130 tin nhắn tức thì, 240 ảnh chụp màn hình thể hiện các cuộc hội thoại bằng ứng dụng zalo, 58 tập tin hình ảnh được lưu trong máy. Nội dung chi tiết các dữ liệu được thể hiện tại thư mục có tên “A” lưu trong đĩa CD kèm theo. Không tìm thấy dữ liệu lưu trong 02 SIM.

Tiến hành kiểm tra đĩa CD lưu trữ các dữ liệu được phục hồi thấy ngoài các hình ảnh bảng đề, tem đề, tin nhắn đánh đề ngày 16/11/2022 L gửi tới tài khoản zalo “Hạt Mit” còn có nhiều bảng đề, tin nhắn đánh đề từ ngày 09/11/2022 đến ngày 15/11/2022 gửi đến số tài khoản này, cụ thể: Ngày 09/11/2022 số tiền trên bảng đề và có trúng thưởng là 3.820.000 đồng, tin nhắn là 550.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 4.370.000 đồng; ngày 10/11/2022 số tiền trên bảng đề và có trúng thưởng là 4.780.000 đồng, tin nhắn và có trúng thưởng là 1.460.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 6.240.000 đồng; ngày 11/11/2022 số tiền trên bảng đề là 1.790.000 đồng, tin nhắn là 720.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 2.510.000 đồng; ngày 12/11/2022 số tiền trên bảng đề và có trúng thưởng là 13.405.000 đồng, tin nhắn là 120.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 13.525.000 đồng; Ngày 13/11/2022 số tiền trên bảng đề và có trúng thưởng là 7.390.000 đồng, tin nhắn là 120.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 7.510.000 đồng; ngày 14/11/2022 số tiền trên bảng đề là 1.270.000 đồng, tin nhắn là 110.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 1.380.000 đồng; ngày 15/11/2022 số tiền trên bảng đề và có trúng thưởng là 1.815.000 đồng, tin nhắn là 540.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 2.355.000 đồng. Dữ liệu phục hồi điện thoại còn thể hiện có nhiều tin nhắn điện thoại, tin nhắn zalo, hình ảnh bảng đề thể hiện nội dung đánh đề từ khoảng tháng 9/2020 của các cá nhân, tài khoản zalo khác nhau gửi đến điện thoại của L có số tiền đánh đề trong một ngày dưới 5.000.000 đồng hoặc trên 5.000.000 đồng nH dưới 20.000.000 đồng, không có ngày nào trên 20.000.000 đồng. L chỉ nhớ và thừa nhận dữ liệu zalo gửi tới tài khoản “Hạt Mit” đã khôi phục được từ thời gian ngày 09/11/2022 đến 16/11/2022 là số tiền đánh đề L đã nhận của khách và chuyển lại cho “Hạt Mit”, còn các dữ liệu khác khách đánh đề trong điện thoại, L không nhớ cụ thể lai lịch những người này là ai, nội dung đánh lô đề như thế nào, L đã nhận hay từ chối vì có nhiều khách đánh cao hoặc đánh nợ L thường từ chối.

Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân có Công văn số 215/CALC ngày 17/2/2022 và số 315/CQCSĐT ngày 20/3/2022 đề nghị Công ty VNG cung cấp thông tin của các tài khoản zalo có L lạc với tài khoản “Buingoclien”, Lệnh thu giữ điện tín số 25 ngày 17/3/2023 đối với số điện thoại gửi tới L có thể hiện nội dung nghi đánh lô đề. Tuy nhiên Công ty VNG và Công ty viễn thông Mobifone chưa có công văn trả lời.

Tại bản Cáo trạng số 67/CT-VKSLC ngày 20 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố Bùi Thị L về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai báo và thừa nhận như nội dung nêu trên; ngoài ra bị cáo khai đã bán nước chè từ sáng sớm đến tối muộn tại vỉa hè gần cửa nhà 130 T từ năm 1992, do kinh tế khó khăn nên thời gian gần đây đã nhận lời bán số bao, số đề thuê hưởng phần trăm để tăng thêm thu nhập, bị cáo không lấy việc bán số đề, bao làm nguồn thu nhập chính. Số tiền được hưởng hoa hồng theo tỉ lệ phần trăm trên tổng số tiền người chơi số đề, số bao, bao xiên và ba càng của từng ngày kể từ ngày 09/11/2022 đến ngày 15/11/2022 bị cáo đã được người thuê trả, ngày 16/11/2022 bị cáo chưa được nhận tiền hoa hồng. Số tiền hoa hồng này khoảng trên dưới 1.500.000đ (bị cáo không nhớ) và đã nộp lại số tiền này tại cơ quan Thi hành án dân sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Thị Ngọc L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Thị Ngọc L mức án từ 15 đến 18 tháng tù nH cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng về tội “Đánh bạc”.

Do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng; đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Buộc bị cáo phải nộp lại 1.548.000đ do phạm tội mà có; bị cáo đã nộp 1.500.000đ, số tiền còn lại 48.000đ buộc bị cáo tiếp tục phải nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.

- Đối với 02 tem đề thu giữ của Nguyễn Văn H đã lưu tại hồ sơ làm tài, liệu chứng cứ nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 7 màu xanh thu giữ của Bùi Thị Ngọc L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tách ra tiếp tục xác minh làm rõ hành vi đánh bạc của các đối tượng khác theo Quyết định số 11 ngày 23/3/2023, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Đối với Nguyễn Văn H có hành vi đánh bạc nH số tiền sử dụng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng chưa tới mức xử lý hình sự, Công an quận Lê Chân đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Đối với việc những đối tượng có tin nhắn điện thoại, tin nhắn zalo gửi đến máy điện thoại của Bùi Thị Ngọc L có nội dung nghi đánh số lô, số đề, đối tượng có tài khoản zalo “Hạt Mit”, nam giới đến thu tiền bán đề của L, nam giới tên Nam mua đề hộ Nguyễn Văn H ngày 16/11/2022 hiện chưa xác minh được lai lịch địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tách hành vi, đồ vật và tài liệu L quan để tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau theo Quyết định số 11 ngày 23/3/2023; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác tại hồ sơ và vật chứng thu giữ nên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 16/11/2022, Bùi Thị Ngọc L đã thực hiện hành vi Đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề với số tiền đánh bạc là 8.025.000 đồng thì bị phát hiện. Từ ngày 09/11/2022 đến 15/11/2022 L có 03 lần thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề với số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng, cụ thể: ngày 10/11/2022 là 6.240.000 đồng, ngày 12/11/2022 là 13.525.000 đồng, ngày 13/11/2022 là 7.510.000 đồng. Nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Thị Ngọc L đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến nếp sống văn minh, trật tự công cộng và gây mất trật tự trị an xã hội.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội. Đây là những tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra xét thấy nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có từ ngày 09/11/2022 đến ngày 15/11/2022 trước khi xét xử; bị cáo có anh trai, em trai có thời gian tham gia quân đội (anh trai tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, em trai tham gia quân đội năm 1983 sau xuất ngũ về công tác tại Công ty cấp nước Hải Phòng) có đơn xin bảo lãnh cho bị cáo được chính quyền địa phương và đề nghị xem xét; bị cáo có đơn trình bày điều kiện hoàn cảnh được chính quyền địa phương xác thực nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 (với 3 tình tiết) Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt, như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, các lần phạm tội đều phạm tội ít nghiêm trọng nên không cần thiết buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội mà chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát, áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nH cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật và vẫn đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Đối với biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đã áp dụng đối với bị cáo cần hủy bỏ theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo phạm tội với mục đích vụ lợi, theo quy định phải phạt bổ sung bị cáo 1 khoản tiền để sung ngân sách Nhà Nước; do bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định, bị cáo có đơn trình bày điều kiện hoàn cảnh được chính quyền địa phương xác thực nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Xét số tiền bị cáo thu lợi bất chính do thực hiện hành vi bán số lô, số đề mà có từ ngày 09/11/2022 đến ngày 15/11/2022 (ngày 16/11/2022 bị cáo chưa được người thuê trả tiền hoa hồng), cụ thể:

+ Ngày 09/11/2022: Số tiền bán đề 1.540.000đ; tiền bán số bao 350.000đ; tiền bán bao xiên 180.000đ, bị cáo được hưởng hoa hồng là 130.500đ.

+ Ngày 10/11/2022: Số tiền bán đề 2.070.000đ; tiền bán số bao 200.000đ; tiền bán bao xiên 160.000đ; tiền bán ba càng 50.000đ; bị cáo được hưởng hoa hồng là 165.500đ.

+ Ngày 11/11/2022: Số tiền bán đề 2.150.000đ; tiền bán số bao 200.000đ; tiền bán bao xiên 110.000đ; tiền bán ba càng 50.000đ; bị cáo được hưởng hoa hồng là 159.500đ.

+ Ngày 12/11/2022: Số tiền bán đề 3.070.000đ; tiền bán số bao 2.250.000đ; tiền bán bao xiên 210.000đ; bị cáo được hưởng hoa hồng là 308.000đ.

+ Ngày 13/11/2022: Số tiền bán đề 2.370.000đ; tiền bán số bao 3.610.000đ; tiền bán bao xiên 280.000đ; tiền bán ba càng 230.000đ; bị cáo được hưởng hoa hồng là 447.000đ.

+ Ngày 14/11/2022: Số tiền bán đề 1.280.000đ; tiền bán số bao 100.000đ; bị cáo được hưởng hoa hồng là 69.000đ.

+ Ngày 15/11/2022: Số tiền bán đề 1.060.000đ; tiền bán số bao 150.000đ; tiền bán bao xiên 1.020.000đ; tiền bán ba càng 10.000đ; bị cáo được hưởng hoa hồng là 268.500đ.

Tổng số tiền bị cáo thu lợi bất chính do bán số đề, số lô mà có là 1.548.000đ cần buộc bị cáo phải nộp lại để sung ngân sách Nhà nước; bị cáo đã tự nguyện nộp lại 1.500.000đ theo biên lai thu tiền số tiền số 0003161 ngày 12/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, số còn lại là 48.000đ, buộc bị cáo tiếp tục nộp số tiền này để sung ngân sách Nhà nước theo quy đinh tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với 02 tem đề thu giữ của Nguyễn Văn H đã lưu trong hồ sơ làm tài, liệu chứng cứ nên Hội đồng xét xử không xét giải quyết.

- Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Bùi Thị Ngọc L 18 (mười tám) tháng tù nH cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Đánh bạc”. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường An Dương, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Bùi Thị Ngọc L.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Buộc bị cáo phải nộp lại 1.548.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước; bị cáo đã nộp 1.500.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003161 ngày 12/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân; số tiền còn lại là 48.000 đồng, buộc bị cáo tiếp tục nộp số tiền này để sung ngân sách Nhà nước.

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6; Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Bùi Thị Ngọc L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ vào Điều 2, 26 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ