- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Hoàng Văn V - TTTPMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2023/HS-ST Ngày 31/8/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Huyền.
2. Ông Đỗ Đình Cường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 92/2023/TLST - HS ngày 09 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn V, tên gọi khác: Không, sinh năm 1984 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản T, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn Ón, đã chết và bà Lường Thị H, đã chết; Vợ: Lò Thị S - sinh năm 1979; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 23/4/2023 đến ngày 29/4/2023 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu đến nay, bị cáo có mặt.
- Người làm chứng: Anh Lường Văn Y sinh năm 1988. Trú tại: Bản T, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Lò Thị S, sinh năm 1979. Trú tại: Bản T, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
- Người phiên dịch tiếng Thái cho bị cáo: Anh Lò Văn Hạnh, sinh năm 1998. Trú tại: Bản Tạng Đán, xã Thân Thuộc, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 23/4/2023 Hoàng Văn V và Lường Văn Y rủ nhau đi xuống huyện Than Uyên chơi. Sau đó V điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 25F1-5407 của V chở Yên đi, khi đi đến bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên thì dừng xe để nghỉ ngơi. Ngồi chơi một lúc thì V bảo Yđợi đi có việc một lúc rồi một mình đi bộ vào trong bản, thấy vậy Y cũng đi bộ vào trong bản nhưng mỗi người đi theo một nhánh đường riêng. Y rẽ xuống đường phía dưới rồi đi đâu không rõ còn V một mình rẽ lên đường phía trên thì gặp và hỏi mua được 01 gói Heroin, bên ngoài được gói bằng một mảnh nilon màu hồng của một người phụ nữ dân tộc Mông không rõ lai lịch với giá 50.000 đồng là tiền riêng của V. Sau khi mua được Heroin, V trích ra một ít sử dụng hết bằng hình thức “hít”. Số Heroin còn lại V gói lại bằng mảnh nilon màu hồng ban đầu rồi cất vào túi áo khoác bên trái đang mặc. Sau đó V đi xuống chỗ để xe thì gặp Y đang đi lên nhưng V không nói cho Y biết việc V đã mua được Heroin và đang cất giấu trong túi áo. Sau đó V rủ Y đi về và cùng đi ra chỗ để xe mô tô. Ra đến chỗ để xe mô tô thì V điều khiển xe mô tô chở Y về, trên đường về V không nói cho Y biết việc mua và đang cất giấu Heroin ở trong túi áo của V đang mặc. Đến 19 giờ 15 phút cùng ngày, khi V điều khiển xe mô tô chở Y về đến bản Sơn Hà, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên thì Hoàng Văn V bị Công an xã Pắc Ta kiểm tra, phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong túi áo khoác bên trái đang mặc của V 01 gói Heroin được gói bằng một mảnh nilon màu hồng có khối lượng 0,15 gam, mục đích để sử dụng. Tạm giữ của V: 01 xe mô tô biển kiểm soát: 25F1-5407, nhãn hiệu SUFAT, màu sơn xanh, số máy: 153131, số khung: 153131, số loại 110, xe đã qua sử dụng.
Ngày 23/4/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã tiến hành thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 36/KL-TCGĐ ngày 23/4/2023 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Hoàng Văn V có khối lượng là 0,15 gam.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã trích 0,05 gam trong tổng số 0,15 gam chất bột khô, màu trắng thu giữ của Hoàng Văn V theo V khai nhận là Heroin gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định số 500/KL-KTHS ngày 27/4/2023 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Bản Cáo trạng số 71/CT-VKS-TU, ngày 08/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên để xét xử Hoàng Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn V từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo, buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 0,1 gam Heroin còn lại sau giám định, 01 mảnh nilon màu hồng và đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước: ½ giá trị xe mô tô biển kiểm soát: 25F1-5407, nhãn hiệu SUFAT, màu sơn xanh, số máy: 153131, số khung: 153131, số loại 110, xe đã qua sử dụng.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Hồi 19 giờ 15 phút, ngày 23/4/2023, tại bản Sơn Hà, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, Hoàng Văn V đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroin có khối lượng 0,15 gam được gói bằng một mảnh nilon màu hồng, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên phát hiện, bắt quả tang.
Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tuy nhiên vì muốn có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác nên cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Văn V không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, bị cáo trình độ học vấn không biết chữ nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo làm ruộng thu nhập thấp và không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- 0,1 gam Heroin còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm; 01 mảnh nilon màu hồng là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe mô tô biển kiểm soát: 25F1-5407, nhãn hiệu SUFAT, màu sơn xanh, số máy: 153131, số khung: 153131, số loại 110, xe đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của bị cáo V và vợ là chị Lò Thị S. Tuy chiếc xe mô tô trên là tài sản chung của vợ chồng bị cáo nhưng bị cáo dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước, không chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát tịch thu sung quỹ ½ giá trị chiếc xe mô tô trên
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các đối tượng hành vi liên quan đến vụ án:
Về nguồn gốc 0,15 gam Heroin, Hoàng Văn V khai do V mua của một người phụ nữ dân tộc mông không rõ nhân thân, lai lịch tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên. Quá trình điều tra, không xác định được người phụ nữ này nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Lường Văn Y là người đi cùng Hoàng Văn V, quá trình điều tra xác định: Quá trình V đi mua và tàng trữ Heroin thì Yên không biết, vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên không đề cập xem xét, xử lý vai trò đồng phạm đối với Lường Văn Y là đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn V 01 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2023.
Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Hoàng Văn V.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì thư của Công an huyện Tân Uyên màu trắng, hình chữ nhật, bên trong đựng 0,1 gam Heroin; 01 mảnh nilon màu hồng. Vật chứng được niêm phong đúng quy định; Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô biển kiểm soát: 25F1-5407, nhãn hiệu SUFAT, màu sơn xanh, số máy đăng ký theo xe 153131 (hiện trạng số máy là RL8PD150FMG000), số khung: 153131, số loại 110, xe đã qua sử dụng
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 09 giờ 00 phút, ngày 25/8/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Hoàng Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Tân Uyên; - Chi cục THADS huyện Tân Uyên; - Công an huyện Tân Uyên; - Bị cáo; Người CQLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |