vanban.org

Bản án 91/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường La, tỉnh Sơn La Tuyên án 29/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Quàng Văn T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, ta ̣m giam (ngày 26/4/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung – pha ̣t tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số 91 ngày 29.8.2023 Quàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Quàng Văn T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ML
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2023/HS-ST
Ngày 29-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML, TỈNH SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tuấn và ông Nguyễn Văn Chứ c.

- Thư ký phiên toà: Ông Đào Ngo ̣c Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chi Công - Kiểm sát viên.́

Ta ̣i điểm cầu thành phần Nhà ta ̣m giữ Công an huyê ̣n ML, tỉnh Sơn La.

- Người tiến hành tố tụng:

Kiểm sát viên: Ông Lườ ng Văn Hoan.

Thư ký Tòa án: Ông Quàng Công Thành.

Ngày 29 tháng 8 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần Nhà ta ̣m giữ Công an huyê ̣n ML, tinh Sơn La xét xử trự̉

c tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 96/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Quàng Văn T, sinh ngày 13/3/1987, tại CL, ML, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản PC, xa CL, huyện ML, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao đô ̣̃

ng tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Quàng Văn N, sinh năm 1960 và con bà Cà Thi ̣ L, sinh năm 1961; Chung sống như vợ chồng vớ i Lò Thi ̣ S, sinh năm 1977; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 13/6/2005 bi ̣ Tòa án nhân dân huyê ̣n ML xử pha ̣t 06 tháng tù về tô ̣i Trô ̣m cắp tài sản, đa đượ̃

c xóa án tich; Ngá

̀y 26/10/2007 bi ̣ Tòa án nhân dân huyê ̣n ML xử pha ̣t 18 tháng tù về tô ̣i Trô ̣m cắp tài sản, đa đượ̃

c xóa án tich; Ngá

̀y 08/10/2009 bi ̣ Tòa án nhân dân huyê ̣n ML xử pha ̣t 09 tháng tù về tô ̣i Trô ̣m cắp tài sản, đa đượ̃

c xóa án tich;́ Ngày 26/6/2015 bi ̣ Tòa án nhân dân huyê ̣n ML xử pha ̣t 12 tháng tù về tô ̣i Trô ̣m cắp tài sản, đa đượ̃

c xóa án tich; Ngá

̀y 06/9/2016 bi ̣ Tòa án nhân dân huyê ̣n ML xử pha ̣t 10 tháng tù về tô ̣i Trô ̣m cắp tài sản, đa đượ̃

c xóa án tich; Bị cáo bị tạḿ giữ, tạm giam từ ngày 26/4/2023; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lườ ng Ngo ̣c C, Luâ ̣t sư thực hiê ̣n trợ giúp pháp lý, thuô ̣c Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nướ c tỉnh Sơn La. Có mặt.

Ngườ i có quyền lợi, nghia vụ liên quan: Ông Quàng Văn N, sinh năm

̃ 1960 và bà Cà Thi ̣ L, sinh năm 1961. Đi ̣a chỉ: Bản PC, xa CL, huyện ML, tỉnh̃ Sơn La. Có đề nghi ̣ xử vắng mă ̣t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 25/4/2023 ta ̣i khu vực bản NL, thi ̣ trấn IO, huyê ̣n ML, Công an huyê ̣n ML phát hiê ̣n bắt quả tang Quàng Văn T đang có hành vi cất giấu 01 gói nilon màu xanh, bên trong có 06 viên nén hình tròn màu hồng, trên các viên đều có chữ WY và 01 gói nilon màu trắng bên trong chứ a chất bô ̣t màu trắng, Quàng Văn T khai nhâ ̣n là Methamphetamine và Heroine cất giấu để sử du ̣ng.

Vật chứng thu giữ:

- 01 gói nilon màu xanh, bên trong có 06 viên nén hình tròn màu hồng, trên các viên đều có chữ WY, nghi là Methamphetamine.

- 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứ a chất bô ̣t màu trắng, nghi là Heroine.

- 01 xe mô tô nhãn hiê ̣u YAMAHA, màu đỏ đen, biển kiểm soát 26B2-927.69, xe đa qua sữ

̉ du ̣ng.

Ngày 26/4/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ML và Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tiến hành bóc mở niêm phong và cân tịnh vật chứng thu giữ khi bắt quả tang. Kết quả: cu ̣c bô ̣t màu trắng trong gói nilon màu trắng có khối lượng 10,15 gam, lấy 0,29 gam làm mẫu giám đi ̣nh ký hiê ̣u T1, còn la ̣i 9,86 gam ký hiê ̣u T1A nhâ ̣p kho vâ ̣t chứ ng; 06 viên nén hình tròn màu hồng, trên các viên đều có chữ WY trong túi nilon màu xanh có khối lượng 0,54 gam, lấy 03 viên có khối lượng 0,26 gam làm mẫu giám đi ̣nh ký hiê ̣u T2, còn la ̣i 03 viên có khối lượng 0,28 gam ký hiê ̣u T2A nhâ ̣p kho vâ ̣t chứ ng. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ML ra quyết định trưng cầu giám định số 47.

Tại Kết luận giám định số 888 ngày 28/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã kết luận: Mẫu gửi giám định T1 là chất ma túy; loại Heroine, khối lượng mẫu gử i giám đi ̣nh là T1=0,29 gam. Mẫu gửi giám định T2 là chất ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gử i giám đi ̣nh là T2=0,26 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 10,15 gam loa ̣i Heroine và 0,54 gam loa ̣i Methamphetamine. Mẫu gử i giám đi ̣nh đa sữ ̉ du ̣ng hết trong quá trinh già

́m đi ̣nh.

Theo quy định tại Điều 4 của Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hai chất ma túy Heroine và Methamphetamine thu giữ của Quàng Văn T được quy định trong cùng một điểm (điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015) nên tinh́ chung khối lượng chất ma túy là 10,69 (Mườ i phẩy sáu mươi chin) gam.

́

Quá trình điều tra và tại phiên toà, Quàng Văn T khai nhận: Khoảng 06 giờ ngày 24/4/2023 Quàng Văn T lấy xe mô tô nhãn hiê ̣u YAMAHA, biển kiểm soát 26B2-927.69 (là tài sản chung của bi ̣ cáo và bố me ̣ bi ̣ cáo) đến nhà Lò Thi ̣ S ta ̣i bản T, xa TM, huyê ̣̃

n TC, tinh Sơn La. Sau khi đến nhả

̀ Lò Thi ̣ S, T để xe ở nhà S rồi đi bô ̣ trong bản để tim mua ma tù

́y về sử du ̣ng. Trên đườ ng đi T gă ̣p 01 ngườ i đàn ông dân tô ̣c Mông (không biết tên, tuổi, đi ̣a chi), Quả

̀ng Văn T đã hỏ i và mua được của ngườ i này 01 gói Heroine và 01 gói Methamphetamine vớ i số tiền 5.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cất vào túi quần và đi về nhà Lò Thi ̣ S. Sáng 25/4/2023 Tiến điều khiển xe về nhà. Tối 25/4/2023 Quàng Văn T tiếp tu ̣c điều khiển xe máy đến nhà Lò Thi ̣ S, khi đến khu vực bản NL, thi ̣ trấn IO, huyê ̣n ML thi bi ̣ tổ công tác Công an huyê ̣n ML kiểm tra, phát hiê ̣n bắt quả

̀ tang.

Đối vớ i người đàn ông dân tô ̣c Mông theo lờ i khai của Quàng Văn T đã bán ma túy cho Quàng Văn T vào ngày 24/4/2023, Quàng Văn T không biết tên, tuổi, địa chi, viê ̣̉

c mua bán không ai biết hoă ̣c chứ ng kiến. Ngoài lờ i khai của T Cơ quan điều tra Công an huyện ML không thu thâ ̣p được tài liê ̣u chứ ng cứ khác nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.

Đối vớ i 01 chiếc xe máy nhãn hiê ̣u YAMAHA, biển kiểm soát 26B2-297.69 là tài sản chung của bi ̣ cáo và bố me ̣, viê ̣c bi ̣ cáo Quàng Văn T sử du ̣ng xe để đi mua ma túy bố me ̣ bi ̣ cáo không biết, xét thấy viê ̣c trả la ̣i tài sản không ảnh hưở ng đến viê ̣c giải quyết vu ̣ án nên ngày 25/5/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyê ̣n ML đa hoã

̀n trả chiếc xe trên cho ông Quàng Văn N.

Tại Bản cáo trạng số 67/CT-VKSML ngày 08/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố bị cáo Quàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Quàng Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt Quàng Văn T từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm 06 tháng tù giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyê ̣n ML được niêm phong dán kín, (đựng 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đa bõ ́c mở ; 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 túi nilon màu trắng ký hiê ̣u T1A = 9,86 gam, 01 túi nilon màu trắng ký hiê ̣u T2A = 0,28 gam).

Chấp nhâ ̣n viê ̣c Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyê ̣n ML đa hoã

̀n trả 01 xe mô tô nhãn hiê ̣u YAMAHA, biển kiểm soát 26B2-297.69, xe đa qua sữ

̉ du ̣ng cho ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃

liên quan Quàng Văn N.

Về án phi: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/́ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Đề nghi ̣ miễn tiền án phi hinh sự sơ thẩm đối vớ i bi ̣ cáo.

́ ̀

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo khẳng định bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Song đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng, pháp luật Nhà nước và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì bị cáo là người dân tộc, cư trú ở vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trinh đô ̣̀

hiểu biết, nhâ ̣n thứ c kém, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, vì bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, tài sản không có giá trị lớn và đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ML; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ML; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, ngườ i bào chữa, ngườ i có quyền lợi nghia vụ̃ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Quàng Văn T thừa nhận: Ngày 25/4/2023 Quàng Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 10,15 gam Heroine và 0,54 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện ML phát hiện bắt quả tang.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, thông báo kết quả giám định vật chứng của vụ án, lời khai của người chứng kiến.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Quàng Văn T đã thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình làm là nguy hiểm cho xã hội và bản thân, nhưng do nghiện chất ma túy nên bị cáo đã thực hiện tội phạm. Hành vi cất giấu, cất giữ trái phép 10,15 gam Heroine và 0,54 gam Methamphetamine của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương.

Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Toà cần xem xét chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và ngườ i bào chữa cho bị cáo, áp dụng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo.

Về nhân thân: Bi ̣ cáo đa 05 lẫ

̀n bi ̣ xử pha ̣t tù, đa đượ̃

c xóa án tích. Do đó bi ̣ cáo thuô ̣c trườ ng hợp có nhân thân xấu.

Về hình phạt

Về hình phạt chính: Tòa cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho xã hội và gia đình, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo nghiện chất ma túy, thu nhập không ổn định, tài sản không có gì giá trị lớn, bị cáo không có khả năng thi hành, Toà cần xem xét không áp dụng đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông theo lờ i khai của Quàng Văn T đa bã ́n ma túy cho Quàng Văn T vào ngày 24/4/2023, cơ quan chức năng không có cơ sở chứng minh, xử lý.

Về vật chứng của vụ án:

01 phong bì công văn của Công an huyê ̣n ML được niêm phong dán kín, (đựng 01 vỏ phong bi niêm phong cù

̃ đa bõ ́c mở ; 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 túi nilon màu trắng ký hiê ̣u T1A = 9,86 gam, 01 túi nilon màu trắng ký hiê ̣u T2A = 0,28 gam). Là của bị cáo dùng thực hiện tội phạm, và là vâ ̣t thuô ̣c loa ̣i Nhà nướ c cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

01 xe mô tô nhãn hiê ̣u YAMAHA, biển kiểm soát 26B2-297.69, xe đã qua sử du ̣ng. Ngày 25/5/2023 Cơ quan điều tra đa trã ̉ la ̣i cho ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃

liên quan Quàng Văn N là đúng quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t, cần chấp nhâ ̣n.

Về án phí:

Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo và người bào chữa xin miễn nộp tiền án phí. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: bị cáo Quàng Văn T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, ta ̣m giam (ngày 26/4/2023).

- Không áp dụng hình phạt bổ sung – pha ̣t tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyê ̣n ML được niêm phong dán kín, (đựng 01 vỏ phong bi niêm phong cù

̃ đa bõ ́c mở ; 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 túi nilon màu trắng ký hiê ̣u T1A = 9,86 gam, 01 túi nilon màu trắng ký hiê ̣u T2A = 0,28 gam).

Chấp nhâ ̣n viê ̣c Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyê ̣n ML đa hoã

̀n trả 01 xe mô tô nhãn hiê ̣u YAMAHA, biển kiểm soát 26B2-297.69, xe đa qua sữ

̉ du ̣ng cho ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃

liên quan Quàng Văn N.

(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/8/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện ML và Chi cục Thi hành án dân sự huyện ML).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Miễn nộp tiền án phí hinh sự̀

sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn T.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 29/8/2023. Ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ