vanban.org

Bản án 91/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị Tr được ly hôn anh Phùng Bá Th.

Về con chung: Giao cháu Phùng Ngọc T, sinh ngày 17/3/2014 cho anh Phùng Bá Th trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Giao cháu Phùng Ngọc H, sinh ngày 12/11/2017 cho chị Hoàng Thị Tr trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị Tr và anh Th không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Chị Tr và anh Th có quyền và…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị Trâm- Phùng Bá Thọ- Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị Tr được ly hôn anh Phùng Bá Th.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CỬA LÒ
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2023/HNGĐ- ST
Ngày: 23/8/2023
V/v hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ- TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Thế Lan

Các hội thẩm nhân dân: 1. bà Nguyễn Thị Trà Giang

2. bà Nguyễn Thị Thủy

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Hiền- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số 63/2023/TLST- HNGĐ ngày 21/6/2023 về tranh chấp “hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXX- ST ngày 10/8/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Hoàng Thị Tr, sinh năm 1994. Nơi ĐKHKTT: Khu phố 6, phường An Thới, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: anh Phùng Bá Th, sinh năm 1990. Nơi ĐKHKTT: khối 3, phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò, Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn- chị Hoàng Thị Tr trình bày:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Tr và anh Phùng Bá Th kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An vào ngày 13/7/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung sống bình thường, trong quá trình chung sống có phát sinh một số mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung, trong cuộc sống luôn có sự áp đặt lẫn nhau, vợ chồng sống không hạnh phúc. Chị Tr và anh Th sống ly thân từ tháng 7/2021 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nay chị Hoàng Thị Tr làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phùng Bá Th.

2. Về con chung: Chị Tr và anh Th có 02 con chung là Phùng Ngọc T, sinh ngày 17/3/2014 và Phùng Ngọc H, sinh ngày 12/11/2017.

Sau khi ly hôn, chị Hoàng Thị Tr có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Phùng Ngọc H, sinh ngày 12/11/2017 (hiện cháu H đang sống cùng chị Tr) và giao cháu Phùng Ngọc T- sinh ngày 17/3/2014 cho anh Th trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng (hiện cháu T đang sống cùng anh Th); Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

3. Về tài sản và khoản nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, anh Phùng Bá Th trình bày: Anh và chị Hoàng Thị Tr kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò, Nghệ An vào ngày 13/7/2015. Sau khi kết hôn, anh chị sống và làm việc tại Phú Quốc, nhưng chị Tr không chăm lo gia đình và con cái, năm 2021 chị Tr đưa cháu Phùng Ngọc H bỏ về Sài Gòn và vợ chồng sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Anh đã đưa cháu Phùng Ngọc T về quê ở phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An sinh sống. Nay vì các con, anh không muốn ly hôn, nhưng chị Tr vẫn muốn ly hôn thì anh đồng ý.

Về con chung: anh Phùng Bá Th đồng ý như trình bày của chị Tr về việc có hai con chung là Phùng Ngọc Tú, sinh ngày 17/3/2014 và Phùng Ngọc Hân, sinh ngày 12/11/2017. Khi ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả hai con Phùng Ngọc T và Phùng Ngọc H, không yêu cầu chị Tr cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ: Anh Phùng Bá Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Nguyên đơn- chị Hoàng Thị Tr có đơn yêu cầu ly hôn với anh Phùng Bá Th, anh Phùng Bá Th có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường Thu, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An thụ lý và giải quyết đơn xin ly hôn của chị Hoàng Thị Tr là đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, anh Phùng Bá Th và chị Hoàng Thị Tr vắng mặt, nhưng anh Th và chị Tr đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy hội đồng xét xử không hoãn phiên tòa mà xét xử vắng mặt các đương sự (Khoản 1 Điều 227 và Điều 228 BLTTDS).

. Về nội dung vụ án:

. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Hoàng Thị Tr và anh Phùng Bá Th chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 13/7/2015 tại UBND phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Do vậy giữa chị Hoàng Thị Tr và anh Phùng Bá Th đã phát sinh quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm sống và thường hay cãi vã nhau, anh Th thường nghi ngờ chị Tr không chung thủy. Sau khi mâu thuẫn xảy ra, tháng 7/2021 chị Hoàng Thị Tr đã bỏ nhà và đưa theo cháu H về TP Hồ Chí Minh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Th cho rằng chị Tr ngoại tình nhưng không đưa ra được chứng cứ để chứng minh và anh không muốn ly hôn. Xét thấy vợ chồng sống không hạnh phúc, đã ly thân từ tháng 7/2021 cho đến nay, cuộc sống ai lo người nấy, không chăm sóc lẫn nhau. Như vậy, đời sống chung vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được; nên chị Hoàng Thị Tr xin được ly hôn anh Phùng Bá Th là có căn cứ nghĩ nên chấp nhận (Điều 51, 56 Luật HN và GĐ).

. Về con chung: chị Hoàng Thị Tr và anh Phùng Bá Th có hai con chung là Phùng Ngọc T, sinh ngày 17/3/2014 và Phùng Ngọc H, sinh ngày 12/11/2017 (Hiện cháu T sống cùng anh Th và cháu H sống cùng chị Tr).

Chị Hoàng Thị Tr có nguyện vọng sau khi ly hôn chị được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Phùng Ngọc H và giao cháu Phùng Ngọc T cho anh Th trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Anh Phùng Bá Th có nguyện vọng sau khi ly hôn được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu chị Tr cấp dưỡng nuôi con. Xét về nguyện vọng của anh Th và chị Tr đều là chính đáng, ai cũng muốn được trực tiếp nuôi con. Nhưng xét về tổng thể, nếu chấp nhận yêu cầu của anh Th được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu thì quyền lợi của các cháu ít nhiều sẽ bị ảnh hưởng, trên thực tế hiện nay cháu T đang sống cùng anh Th và cháu H đang sống cùng chị Tr. Vợ chồng có hai con chung, để đảm bảo quyền lợi cho các cháu trong cuộc sống hàng ngày, cũng như trong học tập và phát triển sau này nên chấp nhận yêu cầu của chị Tr là phù hợp với thực tế hiện tại. Giao cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phùng Ngọc T và giao cho chị Tr trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phùng Ngọc H. Chị Hoàng Thị Tr và anh Phùng Bá Th mỗi người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng một cháu do vậy không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau là phù hợp.

Chị Hoàng Thị Tr và anh Phùng Bá Th có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở (Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình).

Tài sản chung và khoản nợ: chị Hoàng Thị Tr và anh Phùng Bá Th không yêu cầu chia tài sản chung và nợ. Xét thấy yêu cầu trên của anh chị là hoàn toàn tự nguyện không bị ép buộc, nghĩ nên chấp nhận và không xem xét.

. Về án phí: Căn cứ kho¶n 4 §iÒu 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; buộc chị Hoàng Thị Tr phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51; 56; 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị Tr được ly hôn anh Phùng Bá Th.

2. Về con chung: Giao cháu Phùng Ngọc T, sinh ngày 17/3/2014 cho anh Phùng Bá Th trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Giao cháu Phùng Ngọc H, sinh ngày 12/11/2017 cho chị Hoàng Thị Tr trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị Tr và anh Th không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Chị Tr và anh Th có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con chung, các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cấu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

3. Về án phí: Chị Hoàng Thị Tr phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001275 ngày 21/6/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Chị Hoàng Thị Tr đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- Các đương sự;

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND TX Cửa Lò;

- Chi cục THADS TX Cửa Lò;

- TAND tỉnh Nghệ An;

- UBND P Nghi Thu;

- Lưu HS.

Hoàng Thế Lan

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN:

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Trà Giang

Hoàng Thế Lan

Nguyễn Thị Thủy

Cỡ chữ