vanban.org

Bản án 91/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

V quan h hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H được ly hôn với bị đơn anh Ngô Đình L.

V con chung: Giao một con chung tên Ngô Khánh V, sinh ngày 16/6/2022 (hiện đang ở với nguyên đơn) cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Bị đơn anh Ngô Đình L không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. V tài s n chung: Không yêu cầu giải… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? V quan h hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H được ly hôn với bị đơn anh Ngô Đình L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2023/HNGĐ-ST
Ngày 11-9-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Oanh và ông Huỳnh Khắc Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Cao Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Yên – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 190/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2023/QĐXX-ST ngày 25 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992; Địa chỉ: Khu phố S, Phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.

2. Bị đơn: Anh Ngô Đình L, sinh năm 1992; Địa chỉ: Khu phố S, Phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai và biên bản hòa giải, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hằng trình bày: Nguyên đơn và bị đơn anh Ngô Đình L tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2020, được Uỷ ban nhân dân Phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 121, ngày 18 tháng 11 năm 2020. Sau khi kết hôn, hai năm đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đến khi nguyên đơn mang thai thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bị đơn thường xuyên nhậu nhẹt, không lo lắng cho vợ con nên vào tháng 12/2021 nguyên đơn đã nộp đơn ly hôn nhưng vì bị đơn hứa thay đổi nên nguyên đơn đã rút đơn. Tuy nhiên từ khi rút đơn vào tháng 02/2022 cho đến nay, bị đơn vẫn tính nào tật nấy, không có sự thay đổi. Mặc dù, nguyên đơn vẫn còn sống chung ở nhà chồng nhưng mạnh ai nấy sống. Nay xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu được giải quyết ly hôn với bị đơn.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Ngô Khánh V, sinh ngày 16/6/2022 (hiện đang ở với nguyên đơn). Ly hôn, nguyên đơn xin nhận nuôi dưỡng con chung và yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng 1.500.000 đồng/tháng, thời hạn cấp dưỡng kể từ khi Toà án xét xử cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Ngô Đình L vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn đồng ý ly hôn với bị đơn anh Ngô Đình L. Về con chung: Nguyên đơn xin nhận nuôi dưỡng con chung tên Ngô Khánh V, sinh ngày 16/6/2022 (hiện đang ở với nguyên đơn) và không yêu cầu bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Ngô Đình L vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H được ly hôn với bị đơn anh Ngô Đình L. Về con chung: Giao một con chung tên Ngô Khánh V, sinh ngày 16/6/2022 (hiện đang ở với nguyên đơn) cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn anh Ngô Đình L không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H xin ly hôn với bị đơn anh Ngô Đình L là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại thành phố T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về giải quyết vắng mặt của đương sự: Tòa án nhân dân thành phố T đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn để hòa giải và xét xử nhưng bị đơn vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H và bị đơn anh Ngô Đình L tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2020, được Uỷ ban nhân dân Phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 121, ngày 18 tháng 11 năm 2020 là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, phát sinh những mâu thuẫn như nguyên đơn trình bày. Xét thấy, mâu thuẫn giữa các đương sự đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn chị Nguyễn Thị H được ly hôn với bị đơn anh Ngô Đình L.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Ngô Khánh V, sinh ngày 16/6/2022. Ly hôn, nguyên đơn xin nhận nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy: Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “Con d i 36 tháng tu i đ c giao cho m tr c ti p nuôi, tr tr ng h p ng i m không đủ đi u ki n đ tr c ti p trông nom, chăm sóc, nuôi d ng, giáo d c con ho c cha m có tho thu n khác phù h p v i l i ích của con”, hiện cháu V còn rất nh , rất cần sự chăm sóc của người mẹ nên để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của cháu và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử giao con chung tên Ngô Khánh V, sinh ngày 16/6/2022 (hiện đang ở với nguyên đơn) cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Bị đơn anh Ngô Đình L không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

V quan h hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H được ly hôn với bị đơn anh Ngô Đình L.

V con chung: Giao một con chung tên Ngô Khánh V, sinh ngày 16/6/2022 (hiện đang ở với nguyên đơn) cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Bị đơn anh Ngô Đình L không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

V tài s n chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xét.

V án phí HNGĐ-ST: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0008168 ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố T, tỉnh Phú Yên.

V quy n kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ