- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Nguyễn Văn B yêu cầu ky hôn bà Lê Thùy G"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2023/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 9 - 2023 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bành Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Văn Phú Hiên
Bà Đoàn Thị Mến
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc.
Ngày 06 tháng 9 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 216/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 46/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm: 1986 (có đơn xin xét xử vắng
mặt)
Địa chỉ: Tổ C, ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bị đơn: Bà Lê Thùy G, sinh năm: 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ C, ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15 - 5 - 2023, bản khai, biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn ông Nguyễn Văn B trình bày:
- Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thùy G tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 22/3/2016 tại UBND xã X, huyện X. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không ai mai mối, ép buộc, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn, ông B và bà G sống với nhau đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vả nhau. Mặc dù hai bên đã cố gắng hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Từ năm 2022 đến nay ông B và bà G sống ly thân, không còn quan hệ về mặt tình cảm lẫn kinh tế. Nay ông B yêu cầu được ly hôn bà Lê Thùy G;
- Về con chung: Ông B và bà G có 02 con chung là Nguyễn Thùy Thúy A, sinh ngày: 07/10/2016 và Nguyễn Duy K, sinh ngày: 12/5/2019. Nếu ly hôn, ông B yêu cầu được nuôi dưỡng con chung cháu Nguyễn Thùy Thúy A, sinh ngày: 07/10/2016 đến tuổi trưởng thành, đồng ý giao cháu Nguyễn Duy K, sinh ngày: 12/5/2019 cho bà G nuôi dưỡng đến tuổi trường thành, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi các con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông B và bà G tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bà Lê Thùy G, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng là thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa để bà G tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng bà G đều vắng mặt không có lý do.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc có Công văn số 89/CV-VKS ngày 12/8/2023 v/v không cử Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Văn B chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Lê Thùy G không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Văn B có đơn xin xét xử vắng mặt hợp lệ, bà Lê Thùy G được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông B, bà G theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Xét yêu cầu của nguyên đơn, xác định được quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp nuôi con; bị đơn cư trú tại huyện X nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thùy G đăng ký kết hôn vào ngày 22/3/2016 tại UBND xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa ông B và bà G là hợp pháp.
Quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn theo ông B do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cải vã nhau nên cuộc sống chung không hạnh phúc. Từ năm 2022 đến nay ông B và bà G sống ly thân, không còn quan hệ về mặt tình cảm lẫn kinh tế. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông Nguyễn Văn B yêu cầu được ly hôn với bà Lê Thùy G.
Qua xác minh, chính quyền địa phương không nắm được nguyên nhân mâu thuẫn giữa ông B và bà G vì khi xảy ra mâu thuẫn không ai trình báo.
Xét thấy mâu thuẫn giữa ông B và bà G là có thật, trong quá trình sống chung đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Trong quá trình làm việc, bà G đều vắng mặt không có lý do nên không trình bày được ý kiến và không bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Do vậy có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thùy G đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên cần áp dụng Điều 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn B đối với bà Lê Thùy G.
- Về con chung: Ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thùy G có 02 con chung là Nguyễn Thùy Thúy A, sinh ngày: 07/10/2016 và Nguyễn Duy K, sinh ngày: 12/5/2019. Ông B yêu cầu được nuôi dưỡng con chung cháu Nguyễn Thùy Thúy A, sinh ngày: 07/10/2016 đến tuổi trưởng thành, giao cháu Nguyễn Duy K, sinh ngày: 12/5/2019 cho bà G nuôi dưỡng đến tuổi trường thành. Hội đồng xét xử xét thấy, ông B, bà G đều có nơi ở, công việc, thu nhập ổn định, các con chung đều còn nhỏ và cháu A hiện đang sống cùng ông B, cháu K đang sống cùng bà G. Do vậy, cần giao con chung cháu Nguyễn Thùy T A cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; giao cháu Nguyễn Duy K cho bà Lê Thùy G trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp, đảm bảo sự phát triển toàn diện của con theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về yêu cầu cấp dưỡng: Ông B, bà G đều không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thùy G không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn B phải chịu án phí HNGĐ-ST không có giá ngạch theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B.
Ông Nguyễn Văn B được ly hôn với bà Lê Thùy G.
2. Về con chung: Ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thùy G có 02 con chung là Nguyễn Thùy Thúy A, sinh ngày: 07/10/2016 và Nguyễn Duy K, sinh ngày: 12/5/2019.
Ông Nguyễn Văn B được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung cháu Nguyễn Thùy Thúy A, sinh ngày: 07/10/2016 đến tuổi trưởng thành;
Bà Lê Thùy G được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung cháu Nguyễn Duy K, sinh ngày: 12/5/2019 đến tuổi trường thành.
Ông Nguyễn Văn B không phải cấp dưỡng nuôi cháu K; bà Lê Thùy G không phải cấp dưỡng nuôi cháu A.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên; người không trực tiếp nuôi dưỡng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha hoặc mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Ông Nguyễn Văn B phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà ông B đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0011972 ngày 28/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ông B đã nộp đủ án phí, bà G không phải nộp án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; TOÀ - Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc; - Đương sự; - Lưu Hồ sơ, Văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN Bành Thị Thu Hà |