vanban.org

Bản án 91/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Vân A và anh Vũ Văn D.

Về nuôi con chung chưa thành niên: Giao con chung Vũ Khánh C sinh ngày 17 tháng 3 năm 2015 và Vũ Phúc K sinh ngày 25/11/2018 cho chị Phạm Thị Vân A trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung Vũ A sinh ngày 22 tháng 11 năm 2016 cho anh Vũ Văn D trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Phạm Thị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "A -D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Vân A và anh Vũ Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 24/8/2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly
hôn giữa chị Anh và anh D”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Xuân Thọ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Xuyến

Ông Nguyễn Văn Hùng

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện

N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: ông Trần Trọng Hiếu– Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 122/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Vân A, sinh năm 1990 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố số, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nam Định.

Bị đơn: Anh Vũ Văn D, sinh năm 1988 (có mặt)

Địa chỉ: Xóm Ân Thái, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/7/2023 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Phạm Thị Vân A trình bày: Chị và anh Vũ Văn D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định ngày 22 tháng 7 năm 2014.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng ít tương tác nên mâu thuẫn không được giải quyết. Mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã thực sự đổ vỡ không có khả năng hàn gắn đoàn tụ đề nghị Toà án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Văn D.

Về con chung: Vợ chồng chị có ba con chung là Vũ Khánh C sinh ngày 17 tháng 3 năm 2015, Vũ A sinh ngày 22 tháng 11 năm 2016 và Vũ Phúc K sinh ngày 25/11/2018; hiện cả 3 con vẫn do hai vợ chồng nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị muốn nuôi cả ba con không yêu cầu anh D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị.

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị Phạm Thị Vân A vẫn giữ nguyên quan điểm đã trình bày.

Tại bản tự khai ngày 28/7/2023 và quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn anh Vũ Văn D trình bày: Anh và chị Phạm Thị Vân A kết hôn năm 2014 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường thi thoảng có xảy ra bất đồng nhưng mâu thuẫn không lớn. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng từ tháng 7 năm 2023 vợ chồng không có tiếng nói chung, hai bên gia đình không thể hòa giải được. Vợ chồng ly thân từ đầu tháng 7/2023. Nay chị Vân A xin ly hôn, anh đồng ý

Về con chung: vợ chồng anh có ba con chung là Vũ Khánh C sinh ngày 17 tháng 3 năm 2015, Vũ A sinh ngày 22 tháng 11 năm 2016 và Vũ Phúc K sinh ngày 25/11/2018; hiện cả 3 con vẫn do hai vợ chồng đang cùng nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh có nguyện vọng nuôi cả ba con chung và không yêu cầu chị Phạm Thị Vân A cấp dưỡng nuôi con, nếu chị Anh không đồng ý cho anh nuôi ba con thì anh yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung là Vũ Khánh C sinh ngày 17 tháng 3 năm 2015, Vũ A sinh ngày 22 tháng 11 năm 2016.

Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, anh Vũ Văn D trình bày: anh không nhất trí ly hôn, mong muốn vợ chồng đoàn tụ tiếp tục nuôi con; về con chung: nếu vợ chồng ly hôn anh muốn nuôi cả 3 con không yêu cầu chị Anh cấp dưỡng nuôi con, nếu không được nuôi 3 con anh xin nuôi 2 con, con nào cũng được, anh không yêu cầu chị Anh cấp dưỡng nuôi con

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án

Về đường lối giải quyết:

Căn cứ điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 4 điều 147 Bộ luật TTDS; Điều 6, khoản 1 Điều 24, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Thị Vân A. Xử cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Vân A và anh Vũ Văn D.

2. Về con chung: Giao con chung Vũ Khánh C sinh ngày 17 tháng 3 năm 2015 và Vũ Phúc K sinh ngày 25/11/2018 cho chị Anh trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung Vũ A sinh ngày 22 tháng 11 năm 2016 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Anh không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Chị Anh và anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí DSST: Chị Anh phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn.

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Vân A và anh Vũ Văn D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định ngày 22 tháng 7 năm 2014; Vì vậy đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, giữa chị Anh và anh D nảy sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do hai vợ chồng không có tiếng nói chung bất đồng quan điểm sống. Chị Anh và anh D đã cố gắng hòa giải nhưng không thành công, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nay chị Anh xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh D không còn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, anh D không nhất trí ly hôn mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con chung.

Xét thấy cuộc hôn nhân giữa chị Phạm Thị Vân A và anh Vũ Văn D đã mâu thuẫn trầm trọng, từ khi xảy ra mâu thuẫn đến nay hai bên cũng không tìm được biện pháp hòa giải, nếu tiếp tục kéo dài thì mục đích của hôn nhân không đạt được; Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Vân A và anh Vũ Văn D

Về nuôi con chưa thành niên khi ly hôn: Chị Phạm Thị Vân A và anh Vũ Văn D có 3 con chung là Vũ Khánh C sinh ngày 17 tháng 3 năm 2015, Vũ A sinh ngày 22 tháng 11 năm 2016 và Vũ Phúc K sinh ngày 25/11/2018. Cháu Chi có đơn xin được ở cùng với bố và mẹ. Chị Anh và anh D đều mong muốn được nuôi cả ba con chung, không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng nuôi con cho mình. Xét điều kiện, hoàn cảnh thực tế, nguyện vọng của con chung, nguyện vọng của các bên đương sự đồng thời để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử thấy: Cháu Vũ Khánh C là nữ và cháu Vũ Phúc K còn nhỏ đều cần sự chăm sóc trực tiếp của mẹ, vì vậy nên giao 2 cháu cho chị Anh trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Vũ A cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Anh về việc không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn. Chị Anh và anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con.

Về tài sản: Chị Phạm Thị Vân A và anh Vũ Văn D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Phạm Thị Vân A phải nộp án phí ly hôn theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Vân A, anh Vũ Văn D được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Vân A và anh Vũ Văn D.

2.Về nuôi con chung chưa thành niên: Giao con chung Vũ Khánh C sinh ngày 17 tháng 3 năm 2015 và Vũ Phúc K sinh ngày 25/11/2018 cho chị Phạm Thị Vân A trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung Vũ A sinh ngày 22 tháng 11 năm 2016 cho anh Vũ Văn D trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Phạm Thị Vân A không yêu cầu anh Vũ Văn D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Anh và anh D D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3.Về án phí: Chị Phạm Thị Vân A phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N theo biên lai thu số 0000560 ngày 17 tháng 7 năm 2023.

4.Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Vân A, anh Vũ Văn D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

T/M: HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ