vanban.org

Bản án 91/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị R.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị R được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc K. Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1988; Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1990 và Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1992. Hiện nay 03 con chung đã trưởng thành. Không xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị R.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 14/6/2023.
V/v "Tranh chấp ly hôn".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh Tuyết

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Trước

2. Ông Lê Minh Toàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Trong ngày 14 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 137/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1967

Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1964 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị R trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Qua quen biết tìm hiểu nhau bà Nguyễn Thị R và ông Nguyễn Ngọc K đã tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới năm 1985 và có đăng ký kết hôn vào ngày 26/12/2002 tại UBND xã N, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian sau ngày cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau. Ông K thường đi nhậu về đánh đập chửi bới xúc phạm danh dự bà R. Bản thân bà đã nhiều lần cố gắng khắc phục mâu thuẫn để tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng vẫn không được. Nay bà R nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và ông K không còn do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Nguyễn Thị R yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc K.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1988; Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1990 và Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1992. Hiện nay 03 con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Nguyễn Ngọc K đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, cũng không có bản khai ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ gì.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị R vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn ông Nguyễn Ngọc K vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị R khởi kiện về việc xin ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Ngọc K có địa chỉ tại xã N, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long thụ lý và giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình theo thủ tục sơ thẩm được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Nguyễn Ngọc K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị R và ông Nguyễn Ngọc K kết hôn có đăng ký kết hôn vào ngày 26/12/2002 tại UBND xã Hòa Ninh, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long do đó quan hệ hôn nhân là hợp pháp và được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Theo nguyên đơn trình bày, trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống từ năm 2019, ông K thường xuyên đi nhậu về đánh đập chửi bới xúc phạm danh dự bà R. Hiện bà R không còn sống chung với ông K khoảng 01 tháng nay. Tại phiên tòa, bà R xác định không còn tình cảm với ông K, vợ chồng không thể hàn gắn được nên bà vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông K.

Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu nhau, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Xét thấy, từ năm 2019 cho đến nay bà R và ông K không thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng, không quan tâm, chăm sóc nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến tại phiên tòa hôm nay, ông K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên mặc nhiên ông K cũng đã biết được nguyên nhân dẫn đến ly hôn nhưng ông vẫn chưa có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của bà R.

Vì vậy, có căn cứ để xác định bị đơn đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu của bà R yêu cầu được ly hôn với ông K là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống bà R và ông K có 03 con chung tên Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1988; Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1990 và Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1992. Hiện nay 03 con chung đã trưởng thành, không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Bà R không yêu cầu giải quyết và bị đơn ông K vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị R phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Căn cứ các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị R.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị R được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc K.

2. Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1988; Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1990 và Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1992. Hiện nay 03 con chung đã trưởng thành. Không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị R nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ từ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà R nộp đã nộp theo biên lai thu số 0004815 ngày 17/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long nên bà R không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai, nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ