- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Quang Thị Đào - La Hồng Lĩnh"
- Tòa quyết gì? Cho chị Quang Thị Đ ly hôn anh La Hồng L.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN ________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2023/HNGĐ-ST Ngày 29 - 6 - 2023 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thế Hiền, ông Lương Văn Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lê.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 58/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/QĐST-HNGĐ ngày 17/5/2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Quang Thị Đ - sinh năm 1979; Có mặt.
- Bị đơn: Anh La Hồng L - sinh năm 1974; Vắng mặt.
Đều có địa chỉ tại: Bản Huồi M, xã L, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) ngày 06/02/2023, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Quang Thị Đ trình bày chị và anh La Hồng L kết hôn vào ngày 11/4/2002 tại UBND xã L, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, chị và anh L sống với nhau hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm dẫn đến xung đột, cãi vã, thậm chí anh L còn đánh đập chị nhiều lần. Mặc dù được chính quyền, làng xóm và gia đình nội ngoại hòa giải nhưng không thành. Chị và anh L ly thân từ năm 2022 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh La Hồng L;
- Con chung: Chị và anh L có 02 con chung là La Thanh L, sinh ngày 15/11/1997 và La Hữu N, sinh ngày 10/11/2000. Hiện nay các con đã đủ tuổi, trưởng thành có công việc làm ổn định.
- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về nợ: Chị và anh L không nợ cá nhân, tổ chức nào và chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh La Hồng L trình bày: Anh và chị Quang Thị Đ có đăng ký kết hôn vào ngày 11/4/2002 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Cả hai kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Anh và chị Đ sống hạnh phúc đến năm 2010 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Anh có đánh chị Đ và sau đó chị Đ bỏ đi từ đó đến nay thỉnh thoảng mới về anh. Việc anh đánh vợ là do anh nghi ngờ chị Đ sống không chung thủy nên hai bên mới xô xát, cãi cọ nhau. Sự việc mâu thuẫn đã được gia đình hai bên và chính quyền địa phương hòa giải nhưng không có kết quả. Anh và chị Đ sống ly thân từ tháng 3/2023 đến nay. Nay chị Đ làm đơn ly hôn anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh nhất trí ly hôn.
Về con chung: Anh và chị Đ có 02 con chung là La Thanh L, sinh ngày 15/11/1997 và La Hữu N, sinh ngày 10/11/2000. Hiện nay các con đã đủ tuổi, trưởng thành có công việc làm ổn định
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ tài sản chung: Anh và chị Đ không có khoản nợ nào chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án anh La Hồng L được Tòa án triệu tập hơp lệ nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Anh không hợp tác trong quá trình giải quyết, không ký, không nhận văn bản tố tụng của Tòa án và không nêu rõ lý do. Vì thế Tòa án không thể tiến hành hòa giải vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật mà lập các biên bản về việc không tiến hành hòa giải được do bị đơn được triêu tập hợp lệ hai lần vẫn vắng mặt.
Kết quả xác minh tại UBND xã L phản ánh: Chị Đ và anh L kết hôn, về sống tại bản H, xã L, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Quá trình sống chung, giữa chị Đào và anh Lĩnh thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã lẫn nhau do anh L thường xuyên uống rượu, đánh đập chị Đ. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu ý kiến theo quy định tại điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, nguyên đơn đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đề nghị áp dụng các Điều 28, 35, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình: Giải quyết cho chị Quang Thị Đ được ly hôn anh La Hồng L; không giải quyết vấn đề về tài sản chung và nghĩa vụ tài sản chung. Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, bị đơn hiện cư trú tại huyện Con Cuông nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã tiến hành Thông báo thụ lý vụ án, triệu tập bị đơn nhiều lần hợp lệ đến các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng như phiên toà nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Bị đơn vắng mặt phiên toà lần thứ 2 không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về nội dung:
Xét thấy chị Quang Thị Đ và anh La Hồng L đăng ký kết hôn vào ngày 11/4/2002 tại UBND xã L, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, việc đăng ký kết hôn là tự nguyện, không vi phạm quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Quang Thị Đ và anh La Hồng L là hợp pháp.
Tại phiên tòa anh La Hồng L vắng mặt, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của anh L tại nhà riêng anh L. Anh L đã thừa nhận lời khai đó của anh là đúng sự thật tuy nhiên anh không vào biên bản lấy lời khai. Tòa án đã tiến hành lập biên bản sự việc có sự chứng kiến của trưởng bản để làm căn cứ giải quyết vụ án. Anh L thừa nhận vợ chồng anh có mâu thuẫn, anh có đánh đập vợ với lý do anh nghi ngờ chị Đ sống không chung thủy. Kết quả xác minh cho thấy vợ chồng chị Đ và anh L có mâu thuẫn với nhau đã được chính quyền địa phương hòa giải nhưng không thành. Hiện nay vợ chồng đang sống ly thân thể hiện việc chị Đ và anh L không tôn trọng nhau, coi thường cuộc sống hôn nhân, không quan tâm và không còn tình cảm với nhau. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định: Chị Đ và anh L đã vi phạm nghĩa vụ sống chung, thương yêu, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở để khẳng định, hôn nhân giữa chị Đ và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì thế cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 chấp nhận đơn khởi kiện cho chị Quang Thị Đ được ly hôn với anh La Hồng L.
Về con chung: Vợ chồng chị Quang Thị Đ và anh La Hồng L có 02 con chung là La Thanh L, sinh ngày 15/11/1997 và La Hữu N, sinh ngày 10/11/2000. Hiện nay các con đã đủ tuổi, trưởng thành nên Tòa không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Quang Thị Đ và anh La Hồng L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Quang Thị Đ phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Xử:
- Cho chị Quang Thị Đ ly hôn anh La Hồng L.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ tài sản chung: Không giải quyết.
- Về án phí: Chị Quang Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000793 ngày 19/4/2023.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị đơn có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NA; - VKSND huyện Con Cuông; - Chi cục THADS huyện Con Cuông; - Nguyên đơn, bị đơn; - UBND xã L; - Lưu hồ sơ -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Văn Bảo |