vanban.org

Bản án 91/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Trúc P được ly hôn với anh Phạm Hùng S.

Về con chung: Tiếp tục giao con chung là Phạm Thành Đ, sinh ngày 13/7/2009 cho chị Nguyễn Trúc P tiếp tục nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa nguyên đơn Nguyễn Trúc P và bị đơn Phạm Hùng S"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Trúc P được ly hôn với anh Phạm Hùng S.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A
TỈNH K

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2023/HNGĐ- ST
Ngày: 08-9-2023
Về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH K

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngọc Giàu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Huệ

Bà Hồ Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh K tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Mãi - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 64/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 117/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Trúc P, sinh năm 1987 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp R, xã Đ, huyện A, tỉnh K.

2. Bị đơn: Anh Phạm Hùng S, sinh năm 1986 (Vắng mặt không lý do).

Địa chỉ: Ấp R, xã Đ, huyện A, tỉnh K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các ý kiến và yêu cầu trong quá trình giải quyết

vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Trúc P trình bày:

Do quen biết, vào năm 2008 chị có kết hôn với anh Phạm Hùng S (có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 77/2013 cấp ngày 18/9/2013 tại UBND xã Đ, huyện A). Trong quá trình chung sống vợ chồng không hòa hợp nhau về suy nghĩ và tính cách, anh S không lo làm ăn để xây dựng hạnh phúc, làm có bao nhiêu tiền anh đều đi tiêu xài hết, mỗi khi nói tới thì vợ chồng xảy ra ẩu đả. Tuy vậy chị cũng cố nhẫn nhịn khuyên anh đi làm, hi vọng sau này anh sẽ sửa đổi, được mấy tháng thì anh vẫn chứng nào tật nấy nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng lớn thêm không tháo gỡ được. Anh chị đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Xét thấy tình cảm không hàn gắn được nữa nên chị yêu cầu ly hôn.

Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Phạm Thành Đ, sinh ngày 13/7/2009. Hiện đang sống với chị. Sau ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh S cấp dưỡng.

Về tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn anh Phạm Hùng S đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa:

- Chị P: Có đơn xin yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Anh S: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần.

- Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng, bị đơn vắng mặt không đảm bảo theo quy định tại khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử cho chị P được ly hôn với anh S; về con chung: xét thấy từ khi chị P và anh S ly thân cho đến nay do chị P nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và theo nguyện vọng của con chung cũng muốn được sống chung với chị P để đảm bảo quyền lợi của con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giao con chung cho chị P nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết do chị P không có yêu cầu; tài sản, nợ không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Phạm Hùng S có hộ khẩu thường trú ở Ấp R, xã Đ, huyện A, tỉnh K. Vì vậy tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Nguyễn Trúc P có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh Phạm Hùng S vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh, chị trong vụ án này.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

- Xét thấy quan hệ hôn nhân của chị P và anh S là hợp pháp, được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh K cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 77/2013 ngày 18 tháng 9 năm 2013. Hôn nhân của anh chị được xây dựng trên cơ sở quen biết, tìm hiểu nhau trước khi đi đến hôn nhân. Anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn.

Theo chị P nguyên nhân là trong quá trình chung sống vợ chồng không hòa hợp nhau về suy nghĩ và tính cách, anh S không lo làm ăn để xây dựng hạnh phúc. Tuy chị đã cố gắng nhẫn nhịn khuyên anh đi làm, hi vọng sau này anh sẽ sửa đổi nhưng được mấy tháng thì anh S vẫn chứng nào tật nấy nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng lớn thêm không tháo gỡ được. Anh chị đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Xét thấy tình cảm không hàn gắn được nữa nên chị yêu cầu ly hôn.

Anh S không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện cũng như nguyên nhân mâu thuẫn mà phía chị P đưa ra. Mặc dù, lời trình bày của chị P là đơn P nhưng anh S không có ý kiến phản bác đối với lời trình bày này. Hơn nữa, anh S không tham dự các phiên hòa giải của Tòa án để thể hiện ý kiến của mình là muốn đoàn tụ, hàn gắn mâu thuẫn hôn nhân chứng tỏ anh S không mong muốn tiếp tục duy trì hôn nhân với chị P. Đồng thời anh, chị đã có thời gian ly thân từ năm 2022 đến nay vẫn không thể hàn gắn, đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân giữa chị P và anh S không thể tiếp tục kéo dài, tình trạng hôn nhân của anh, chị đã không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị P là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị P xác định giữa chị và anh S có 01 con chung là Phạm Thành Đ, sinh ngày 13/7/2009. Hiện đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị P và anh S ly thân cho đến nay là do chị P nuôi dưỡng con chung. Anh S không có ý kiến gì về việc chị P yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Đồng thời theo đơn trình bày nguyện vọng của cháu Đ thì sau khi cha mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ. Do đó để đảm bảo sự phát triển và quyền lợi của con chung nên cần tiếp tục giao con chung là Phạm Thành Đ, sinh ngày 13/7/2009 cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó;

[4] Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Chị P không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị P xác định không có. Anh S không có ý kiến tài sản chung cũng như nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[7] Xét đề nghị của Vị Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Các Điều 24; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Trúc P được ly hôn với anh Phạm Hùng S.

2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung là Phạm Thành Đ, sinh ngày 13/7/2009 cho chị Nguyễn Trúc P tiếp tục nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó;

- Tiền cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết do không có yêu cầu.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết do không có yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Trúc P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị P đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001163 ngày 15/3/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh K. Xem như chị P đã thi hành xong phần án phí.

5. Chị Nguyễn Trúc P, anh Phạm Hùng S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh K xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ