vanban.org

Bản án 91/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 23/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 túi sách mầu đen. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
T PHỐ BẮC GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 91/2022/HSST
Ngày 23 tháng 6 năm 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T PHỐ BẮC GIANG

Với T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư và bà Nguyễn Thị Vượng.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện – Thư ký Toà án nhân dân T phố Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố Bắc Giang: Bà Nguyễn Thị Việt Anh- Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân T phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2022; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2022/QĐXXST-HS ngày 10/6/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thị Thanh N, sinh năm 1981

Nơi cư trú: Số nhà 188 đường Thân Cảnh Phúc, phường Thọ Xương, T phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Bán vé xổ số; Trình độ văn hóa: 12/12.

Bố: Trần Hải Đ, sinh năm 1946

Mẹ: Vũ Thị N, sinh năm 1950

Gia đình có 02 chị em, bị can là thứ 2

Chồng: Nguyễn Thế C, sinh năm 1981 (đã ly hôn)

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị can đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 04/01/2022 đến ngày 13/01/2022 được áp dụng biện pháp bị cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. (có mặt tại phiên tòa)

*Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Thân Văn K, sinh năm 1970. (vắng mặt)

2. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1977. (vắng mặt)

Đều địa chỉ: Số nhà 07, ngách 29, ngõ 190, đường Nguyễn Công Hãng, phường Trần Nguyên Hãn, T phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

3. Anh Phạm Văn T, sinh năm 1988. (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Vũ T, xã Lạc Long, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

4. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1979. (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Liên Sơn, xã Tân Dĩnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

5. Bà Vũ Thị N, sinh năm 1950. (vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà 188, đường Thân Cảnh Phúc, phường Thọ Xương, T phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

* Ngƣời chứng kiến:

Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1964. (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố Tân Ninh, phường Trần Phú, T phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thị Thanh N, sinh năm 1981 trú tại số nhà 188 đường Thân Cảnh Phúc, phường Thọ Xương, T phố Bắc Giang có hợp đồng làm đại lý bán xổ số cho Công ty TNHH một T viên xổ số kiến thiết Bắc Giang. Hàng ngày, N bán xổ số tại vỉa hè đường Xương Giang đoạn gần công ty xổ số kiến thiết Bắc Giang thuộc phường Trần Phú, T phố Bắc Giang. Ngoài việc bán xổ số, N còn có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề với những người có nhu cầu. Khi có khách đến mua số lô, số đề thì N sẽ ghi các số lô, số đề vào tờ cáp nhỏ giao cho khách giữ đồng thời N cũng ghi lại các số lô, số đề do khách đánh vào một tờ cáp đề khác để theo dõi thanh toán Th thua sau khi có kết quả xổ số miền Bắc.

Buổi sáng ngày 04/01/2022, Trần Thị Thanh N đến vỉa hè đường Xương Giang thuộc phường Trần Phú, T phố Bắc Giang bán xổ số và ghi số lô, số đề của khách qua đường. Do bận công việc cá nhân nên N nhờ bà Vũ Thị N, sinh năm 1950 là mẹ đẻ của N trông giúp quầy và bán vé xổ số. Khi có một số người đến đặt vấn đề mua số lô, số đề thì bà N đồng ý và đã ghi vào 2 tờ cáp nhỏ. Đến buổi trưa cùng ngày, N đi ra quầy bán xổ số thì được bà N đưa cho 02 tờ cáp đề do bà N đã khi cho khách trước đó.

Khoảng 18 giờ ngày 04/01/2022, Nguyễn Văn T, sinh năm 1979 trú tại thôn Liên Sơn, xã Tân Dĩnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đi xe máy biển kiểm soát 33P6-3487 đến quầy bán vé số của N hỏi mua các số lô, số đề. T đọc cho N mua các số lô, số đề gồm: Dạng 2 cửa các ô số ở đầu 8 và các ô số ở đuôi 8 mỗi số 10.000 đồng; dạng lô có các số 70 - 20 điểm, các số 07, 28, 82 mỗi số 10 điểm. N viết các số lô, số đề mà T đặt mua vào một tờ cáp đề nhỏ đưa cho T. N ghi các số lô, số đề này vào một tờ cáp đề khác để theo dõi. Tổng số tiền ghi trên cáp đề là 1.550.000 đồng. Sau khi được trừ phần trăm thì T thanh toán cho N số tiền 1.470.000 đồng. Khi T C bị ra về thì bị Tổ công tác Công an phường Trần Phú phát hiện, lập biên bản kiểm soát và thu giữ số vật chứng gồm:

- Thu giữ trong ví của Nguyễn Văn T 01 tờ cáp đề là mặt sau của tờ kết quả xổ số miền Bắc có ghi các số lô, số đề.

- Thu giữ của Trần Thị Thanh N 01 túi xách mầu đen bên trong có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max có số IMEI: 357268097594115; 13 tờ cáp đề là mặt sau của tờ kết quả xổ số miền Bắc được cắt nhỏ (ký hiệu từ 01 đến 13, trên mỗi tờ cáp đề đều có ghi ký hiệu “04-1” tức là ngày 04/01/2022) và số tiền 9.200.000 đồng (bút lục 166).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T phố Bắc Giang khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Thị Thanh N nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu có liên quan đến hành vi đánh bạc. Cùng ngày, Trần Thị Thanh N đầu thú và khai nhận hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh số lô, số đề.

N khai sử dụng tài khoản Zalo có tên “Thanh N” Đ ký bằng số điện thoại 0384227081 cài đặt trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max đã thu giữ. Trước thời điểm bị phát hiện, N đã chụp ảnh các cáp đề của ngày 04/01/2022 sau đó chuyển cáp đề bằng hình thức nhắn tin vào tài khoản Zalo có tên “Bình Yên” có số điện thoại 0962.716.373. N khai số điện thoại và tài khoản zalo trên là của Nguyễn Thị P, sinh năm 1977 ở số nhà 07, ngách 29, ngõ 190 đường Nguyễn Công Hãng, phường Trần Nguyên Hãn, T phố Bắc Giang. Căn cứ lời khai của N, Cơ quan CSĐT Công an T phố Bắc Giang tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị P nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu có liên quan đến đánh bạc.

Cơ quan CSĐT Công an T phố Bắc Giang đã trưng cầu giám định chữ viết của Trần Thị Thanh N và Vũ Thị N trên 13 tờ cáp đề đã thu giữ.

Bản kết luận giám định số 68/KL-KTHS ngày 11/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

Chữ viết (chữ số) trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2, từ A4 đến A13); chữ viết có nội dung “70.000 – 115.000 – 185.000” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A3); “690.000 – 630.000” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A14) so với chữ viết của Trần Thị Thanh N trên các tài liệu mẫu là do cùng một ngƣời viết ra.

Bản kết luận giám định bổ sung số 402/KL-KTHS ngày 14/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

Chữ viết (chữ số) trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A3, A14 – trừ chữ viết có nội dung “70.000 – 115.000 – 185.000” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A3; “690.000 – 630.000” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A14) so với chữ viết của Vũ Thị N trên các tài liệu mẫu là do cùng một người viết ra.

Kết quả điều tra xác định số tiền bị can N đánh bạc trong ngày 04/01/2022 thể hiện trên 13 tờ cáp đề đã thu giữ, cụ thể như sau:

- Tờ cáp đề có ký hiệu số 1 (là tờ cáp đề ghi cho Nguyễn Văn T) ghi các dạng 2 cửa, lô với tổng số tiền trên cáp đề là 1.550.000 đồng

- Tờ cáp đề ký hiệu số 2 ghi các số dạng 2 cửa, đặc biệt, lô, lô xiên với tổng số tiền trên cáp đề là 1.060.000 đồng.

- Tờ cáp đề ký hiệu số 3 ghi các số dạng lô, 2 cửa với tổng số tiền trên cáp đề là 250.000 đồng.

- Tờ cáp đề ký hiệu số 4 ghi các số dạng lô và lô xiên với tổng số tiền trên cáp đề là 1.320.000 đồng.

- Tờ cáp đề ký hiệu số 5 ghi các số dạng đặc biệt, lô với tổng số tiền trên cáp đề là 185.000 đồng.

- Tờ cáp đề số 6 ghi các số dạng lô và lô xiên với tổng số tiền trên cáp đề là 2.450.000 đồng.

- Tờ cáp đề số 7 ghi các số dạng lô và lô xiên với tổng số tiền trên cáp đề là 1.020.000 đồng.

- Tờ cáp đề số 8 ghi các số dạng lô xiên với tổng số tiền trên cáp đề là 200.000 đồng.

- Tờ cáp đề số 9 ghi các số dạng 2 cửa với tổng số tiền trên cáp đề là 500.000 đồng.

- Tờ cáp đề số 10 ghi các số dạng lô với tổng số tiền trên cáp đề là 575.000 đồng.

- Tờ cáp đề số 11 ghi các số dạng nhất to, lô và lô xiên với tổng số tiền trên cáp đề là 1.280.000 đồng.

- Tờ cáp để số 12 ghi các số dạng đặc biệt, lô và lô xiên với tổng số tiền trên cáp đề là 1.010.000 đồng.

- Tờ cáp đề số 13 ghi các số dạng 2 cửa với tổng số tiền trên cáp đề là 1.600.000 đồng.

Tổng lượng tiền ghi trên 13 tờ cáp đề là 13.000.000 đồng. Do hành vi đánh bạc bị phát hiện trước khi có kết quả xổ số kiến thiến miền Bắc nên số tiền N đánh bạc ngày 04/01/2022 là 13.000.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, bị can N khai đã chuyển cáp đề ngày 04/01/2022 cho Nguyễn Thị P bằng hình thức nhắn tin vào tài khoản Zalo có tên “Bình Yên” có số điện thoại 0962.716.373. Tuy nhiên, P khai không sử dụng số điện thoại và tài khoản Zalo nêu trên, P chỉ sử dụng số thuê bao 0325.88.9654 và không nhận cáp đề của N. Cơ quan điều tra đã cho bị can N và Nguyễn Thị P đối chất nhưng các bên giữ nguyên lời khai. Kết quả thu giữ thư tín, điện tín tại Tập đoàn công nghiệp Viễn thông Quân đội Viettel xác định số thuê bao 0962716373 Đ ký tên Phạm Văn T, sinh năm 1988 ở thôn Vũ T, xã Lạc Long, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Anh T khai kinh doanh mua bán, sửa chữa điện thoại di động, mua bán sim, thẻ điện thoại và có sử dụng giấy tờ cá nhân Đ ký nhiều sim điện thoại bán cho khách hàng nên không nhớ sim điện thoại số 0962716373 được Đ ký từ thời gian nào và đã bán cho ai. Cơ quan điều tra kết luận không đủ căn cứ xác định Nguyễn Thị P có hành vi đánh bạc.

Đối với Vũ Thị N ghi các số lô, số đề tại hai tờ cáp đề (ký hiệu số 4 và số 5) với tổng số tiền là 1.505.000 đồng. Nguyễn Văn T có hành vi mua số lô, số đề với số tiền đánh bạc là 1.550.000 đồng. Các đối tượng nêu trên đều chưa có tiền án, tiền sự nên Trưởng Công an T phố Bắc Giang đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại anh T chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus; giấy chứng nhận Đ ký xe mô tô; chứng minh thư nhân dân và chiếc xe mô tô biển kiểm soát 33P6-3487. Số vật chứng còn lại nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị Thanh N từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường Thọ Xương, T phố Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000đ đến 12.000.000đ nộp ngân sách Nhà nước.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- 01 túi sách mầu đen đã không còn giá trị sử dụng, bị cáo đề nghị tiêu hủy nên Đề nghị hội đồng xét xử tiêu hủy.

- Đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max có số Imei 357268097594115 lắp sim 0384227081, mật khẩu màn hình là 145690 đã qua sử dụng, và số tiền 9.200.000đ của bị cáo.

- Truy thu số tiền thu lời bất chính của bị cáo là 3.800.000đ.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH buộc các bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên.

XÉT THẤY:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an T phố Bắc Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân T phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiên hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ thấy đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 04/01/2022, Trần Thị Thanh N có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề tại quầy bán xổ số trên vỉa hè đường Xương Giang thuộc địa phận phường Trần Phú, T phố Bắc Giang thì bị Công an phường Trần Phú phát hiện lập biên bản. Kết quả điều tra xác định tổng số tiền N đánh bạc trong ngày 04/01/2022 là 13.000.000 đồng.

Hành vi của Trần Thị Thanh N đã có đủ yếu tố cấu T tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân T phố Bắc Giang truy tố các bị cáo theo khoản, điều luật như trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa P, gây ảnh hưởng không tốt đến gia đình và xã hội.

. Xét các tình tiết tăng nặng trách N hình sự của bị cáo thì thấy: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách N hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Xét tình tiết giảm nhẹ trách N hình sự cho các bị cáo thì thấy:

Sau khi phạm tội, bị cáo ra đầu thú; T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cần giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Cần tịch thu tiêu hủy 01 túi sách mầu đen đã không còn giá trị sử dụng theo đề nghị của bị cáo.

Cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max có số Imei 357268097594115 lắp sim 0384227081, mật khẩu màn hình là 145690 đã qua sử dụng, và số tiền 9.200.000đ của bị cáo.

- Truy thu số tiền thu lời bất chính của bị cáo là 3.800.000đ.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị Thanh N 10 (Mười) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường Thọ Xương, T phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 túi sách mầu đen.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Mã có số Imei 357268097594115 lắp sim 0384227081, mật khẩu màn hình là 145690 đã qua sử dụng và số tiền 9.200.000đ của bị cáo.

- Truy thu số tiền thu lời bất chính của bị cáo là 3.800.000đ.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH buộc các bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ