vanban.org

Bản án 91/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 21/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Quách Văn N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 588 và Điều 589 BLDS: Buộc bị cáo Quách Văn N phải hoàn trả anh Vũ Văn O số tiền 25.000.000 đ. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng các Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Trả lại bị cáo 01 valy k o màu ghi xám, 01 ví da màu đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quách Văn N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2022/HSST
Ngày 21/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thạch Thiên Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Nguyễn Văn Tấn

2.Bà Dương Thị Ngần

Thư ký phiên tòa: Bà Đ Thị Lụa – Thư ký TAND huyện Tiên Du.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Anh - Kiểm sát viên

Ngày 21/6/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 103/2022/TLST-HS ngày 02/6/2022 theo quyết định đưa vụ án ra x t xử số 97/2022/QĐXXST-HS ngày 07/6/2022 đối với bị cáo:

Quách Văn N, sinh năm 1999

STQ: Thôn B, xã P, huyện N, tỉnh T.

Dân tộc Mường, giới tính Nam, tôn giáo: không, quốc tịch: Việt Nam.

Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do

Con ông Quách Văn H, sinh năm 1977; Nghề nghiệp: Làm ruộng

Con bà Hồ Thị T, sinh năm 1979; Nghề nghiệp: Làm ruộng

Gia đình bị cáo có 02 anh em ruột. Bị cáo là con lớn.

Có vợ: Trần Thị N, sinh năm 1998 (đã ly thân).

Con: có 01 con, sinh 2017.

Tiền sự: Không

Tiền án: có 02 tiền án

Tại Bản án số 24/2018/HSST ngày 09/3/2018, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt N 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999;

Tại Bản án số 104/2018/HSST ngày 18/3/2018, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xử phạt 26 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999;

Tổng hợp hình phạt của 2 bản án trên buộc N phải chấp hành hình phạt là 40 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù, ra trại ngày 19/11/2020.

- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/3/2022 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Trần Thị H, sinh năm 2001.Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Ổn Lâm, xã Yên Mỹ, huyên Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:Anh Vũ Văn O, sinh năm 1983.Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Núi Móng, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

NHẬN THẤY

Bị cáo Quách Văn N bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Do có quan hệ quen biết giữa Quách Văn N và chị Trần Thị H. Bản thân N có nợ tiền chị H (do nhờ chị H mua xe hộ)

Khoảng đầu giờ chiều ngày 18/3/2022, chị H điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 36B8 - 464.22 của chị đến phòng trọ của N. Tại đây, N hỏi mượn chiếc xe này của chị H ra Hà Nội để vay tiền trả chị H và hẹn 16 giờ cùng ngày sẽ mang xe về trả chị H, chị H đồng ý giao cho N chiếc xe cùng đăng ký xe và căn cước công dân của chị. N điều khiển chiếc xe trên ra Hà Nội để vay tiền nhưng không vay được ai nên nảy sinh ý định cầm cố chiếc xe để lấy tiền đánh bạc trên mạng kiếm tiền. Khoảng 16 giờ cùng ngày, N không hỏi ý kiến chị H mà điều khiển chiếc xe đến hiệu cầm đồ “HẢI ĐĂNG” của anh Vũ Văn O, đặt vấn đề muốn cầm cố chiếc xe này với số tiền 25.000.000 đồng. N nói với anh O đây là xe của vợ N và đưa cho anh O xem căn cước công dân của chị H. Anh O tin tưởng nên đồng ý nhận cầm cố chiếc xe, cùng đăng ký xe, đồng thời đưa cho N số tiền 25.000.000đ. Sau khi cầm tiền, N đã sử dụng toàn bộ số tiền này để mua thẻ game nạp vào game Sun Win với tài khoản “00nn00”, mật khẩu là “038099005756” trên chiếc máy tính bảng Samsung Galaxy Tab S6 và chi tiêu cá nhân hết tiền. Đến 17 giờ cùng ngày, N thông báo lại cho H biết mình đã cắm chiếc xe trên, tuy nhiên chị H không đồng ý và yêu cầu N trả lại xe, do không còn tiền để chuộc xe trả H nên N đã bỏ đi không về phòng trọ, chị H đã nhiều lần liên hệ yêu cầu N trả xe nhưng N không có khả năng chuộc xe trả lại cho chị H nên 18 giờ ngày 19/3/2022, chị H đã làm đơn trình báo Công an xã Đại Đồng. Đến ngày 20/03/2022, N đi về phòng trọ thì chị H báo lực lượng Công an xã Đại Đồng đến mời N lên làm việc, lực lượng Công an đã tạm giữ của N: 01 Hợp đồng cầm đồ của cửa hàng cầm đồ Hải Đăng, ghi ngày 18/3/2022; 01 bộ quần áo xuân hè ngành Công an gắn đầy đủ ve hàm cấp bậc Thượng sỹ; 01 bộ quần áo Cảnh sát cơ động gắn đầy đủ ve hàm cấp Thượng úy; 02 thắt lưng da ngành công an; 02 đôi tất ngành công an; 01 mũ Kapi ngành Công an; 01 đôi giày da màu đen ngành công an, 01 đôi giày cổ bạt Cảnh sát cơ động; 01 va ly kéo màu ghi xám; 01 ví da màu đen; 01 thẻ ATM Ngân hàng MB Bank; 01 thẻ ATM Ngân hàng Vietcombank; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S7 màu vàng. Sau đó, Công an xã Đại Đồng đã bàn giao toàn bộ hồ sơ và đồ vật, tài liệu trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du, N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Ngày 20/3/2022, sau khi được thông báo chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 36B8-464.22 là xe do N phạm tội mà có, anh O đã giao nộp chiếc xe trên cùng 01 đăng ký xe cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du.

Tại Kết luận định giá tài sản số 34/KL - ĐGTSTTHS ngày 25/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện Tiên Du, kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn đen, BKS 36B8 - 464.22, đã qua sử dụng, giá trị còn lại là 33.000.000đ (Ba mươi ba triệu đồng).

Sau khi bắt giữ N, cơ quan điều tra còn thu giữ tại phòng trọ của N: 01 bộ quần áo xuân hè ngành Công an gắn đầy đủ ve hàm cấp bậc Thượng sỹ; 01 bộ quần áo Cảnh sát cơ động gắn đầy đủ ve hàm cấp Thượng úy; 02 thắt lưng da ngành Công an; 02 đôi tất ngành Công an; 01 mũ Kapi ngành Công an; 01 đôi giày da màu đen ngành Công an, 01 đôi giày cổ bạt Cảnh sát cơ động: N khai mua những đồ vật trên vào năm 2017, của trang “Đồ Công an chính hãng” trên mạng xã hội Facebook với mục đích mặc chụp ảnh đăng lên mạng Facebook lấy lòng các bạn gái, không dùng vào mục đích nào khác. Những vật chứng này đã được xử lý theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 24 ngày 14/5/2022 của Công an huyện Tiên Du đối với N về hành vi “Tàng trữ, sử dụng trái ph p trang phục, cấp hiệu, phù hiệu, số hiệu, chứng minh công an nhân dân hoặc các giấy tờ khác dành riêng cho lực lượng Công an nhân dân”. 01 valy k o màu ghi xám, 01 ví da màu đen, 01 thẻ ATM Ngân hàng MB Bank; 01 thẻ ATM Ngân hàng Vietcombank; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S7 màu vàng là đồ vật, tài sản của N, không liên quan đến việc phạm tội. 01 chiếc máy tính bảng Samsung Galaxy Tab S6, N sử dụng để đăng nhập vào tài khoản Game, N đã bán cho một người không quen biết, N không biết rõ tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra chưa thu hồi được.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo N khai nhận như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận việc VKSND huyện Tiên Du truy tố về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là đúng quy định của pháp luật..

Bị hại là chị Trần Thị H đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà, lời khai có trong hồ sơ thể hiện chị có cho bị cáo N mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS: 36B8 464.22 để N đi vay tiền trả chị, sau khi mượn được xe của chị, bị cáo N đã tự động mang đi cầm cố lấy tiền để tiêu sài cá nhân. Sau khi cầm cố xe, bị cáo N mới thông báo cho chị biết việc đã cầm cố xe, bản thân chị không đồng ý với việc này. Đến thời điểm này, chị đã nhận lại được xe kể trên. Về TNDS chị không yêu cầu bị cáo N phải bồi thường, về TNHS chị H đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Văn O vắng mặt tại phiên tòa, lời khai có trong hồ sơ thể hiện: Bản thân anh có nhận cầm cố chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS: 36B8 464.22 của bị cáo N với giá thoả thuận là 25.000.000 đ. Khi cầm cố xe, bị cáo N nói là xe thuộc sở H của vợ bị cáo và có đưa đăng ký xe cùng căn cước công dân của chị N, bản thân anh cũng không biết về nguồn gốc chiếc xe. Do vậy, anh đề nghị bị cáo phải hoàn trả anh số tiền 25.000.000 đ mà anh đã đưa cho N để nhận cầm cố xe.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 64/CT- VKSTD ngày 31/5/2022. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng x t xử:

1. Tuyên bố bị cáo Quách Văn N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt và điều luật áp dụng:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Quách Văn N từ 21 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung “phạt tiền” đối với bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, các Điều 584; Điều 585, Điều 586, Điều 588 và Điều 589 BLDS: Buộc bị cáo Quách Văn N phải hoàn trả anh Vũ Văn O số tiền 25.000.000 đ.

4. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng các Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Trả lại bị cáo 01 valy k o màu ghi xám, 01 ví da màu đen, 01 thẻ ATM Ngân hàng MB Bank; 01 thẻ ATM Ngân hàng Vietcombank; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S7 màu vàng nhưng tạm giữ chiếc điện thoại di động để đảm bảo thi hành án.

Tại phiên tòa hôm nay, sau khi nghe luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du bị cáo N thừa nhận có tội, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đối đáp tranh luận lại quan điểm của đại diện VKS đôi với phần liên quan đến mình.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem x t đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời trình bày của người bị hại, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng x t xử có đủ cơ sở kết luận: Chiều ngày 18/3/2022, tại phòng trọ của N ở thôn Đại Trung, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, N mượn của chị H chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 36B8-464.22 trị giá 33.000.000đ (Ba mươi ba triệu đồng) để đi vay tiền và hẹn 16 giờ cùng ngày sẽ trả lại xe nhưng sau đó không vay được tiền, N đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe nên không hỏi ý kiến chị H mà mang chiếc xe trên đến cầm cố cho anh O được 25.000.000đ để nạp thẻ game và chi tiêu cá nhân hết, đến nay không có khả năng chuộc lại xe trả lại cho chị H.

Việc cầm cố xe của N, chị H không được biết và cũng không được sự đồng ý của chị H. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở H về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra còn gây mất trật tự trị an, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm. Vì vậy phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

X t về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu:

+ Tại bản án số 24/2018/HSST ngày 09/3/2018, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt N 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999;

Tại Bản án số 104/2018/HSST ngày 18/3/2018, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xử phạt 26 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999; Tổng hợp hình phạt của 2 bản án trên buộc N phải chấp hành hình phạt là 40 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù, ra trại ngày 19/11/2020 ( tại bản án số 104/2018/HSST ngày 18/3/2018 chưa xác định bị cáo là tái phạm ). Lần phạm tội này, khi chưa được xoá án tích của các bản án kể trên. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ những phân tích, nhận định nêu trên x t thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: X t tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra cùng hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, Hội đồng x t xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo đã lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt của bị hại là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 36B8-464.22 đã được thu hồi và trả lại bị hại đầy đủ. Bản thân bị hại không có yêu cầu gì nên không đề cập xem x t giải quyết.

Đối với số tiền 25.000.000 đồng anh Vũ Văn O đưa cho N khi N cầm cố xe. Bản thân khi cầm cố xe, N không nói cho anh O biết về nguồn gốc chiếc xe. Về phía anh O có yêu cầu N phải hoàn trả số tiền 25.000.000 đ kể trên. X t yêu cầu đó là chính đáng và hợp pháp nên cần buộc N phải hoàn trả anh O là phù hợp pháp luật.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc xe nhãn hiệu Honda Vision BKS 36B8-464.22 trên và 01 đăng ký xe. Ngày 26/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã trả lại chị H nên không xem x t giải quyết là phù hợp pháp luật.

Đối với 01 bộ quần áo xuân hè ngành Công an gắn đầy đủ ve hàm cấp bậc Thượng sỹ; 01 bộ quần áo Cảnh sát cơ động gắn đầy đủ ve hàm cấp Thượng úy; 02 thắt lưng da ngành Công an; 02 đôi tất ngành Công an; 01 mũ Kapi ngành Công an; 01 đôi giày da màu đen ngành Công an, 01 đôi giày cổ bạt Cảnh sát cơ động: N khai mua những đồ vật trên vào năm 2017, của trang “Đồ Công an chính hãng” trên mạng xã hội Facebook với mục đích mặc chụp ảnh đăng lên mạng Facebook lấy lòng các bạn gái, không dùng vào mục đích nào khác. Những vật chứng này đã được xử lý theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 24 ngày 14/5/2022 của Công an huyện Tiên Du đối với N về hành vi “Tàng trữ, sử dụng trái phép trang phục, cấp hiệu, phù hiệu, số hiệu, chứng minh công an nhân dân hoặc các giấy tờ khác dành riêng cho lực lượng Công an nhân dân” với mức hình phạt 500.000 đồng là phù hợp pháp luật nên không xem x t giải quyết.

Đối với 01 valy k o màu ghi xám, 01 ví da màu đen, 01 thẻ ATM Ngân hàng MB Bank; 01 thẻ ATM Ngân hàng Vietcombank; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S7 màu vàng là đồ vật, tài sản của N, không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại bị cáo, nhưng tạm giữ đối với chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy S7 màu vàng là phù hợp pháp luật.

Đối với chiếc máy tính bảng Samsung Galaxy Tab S6, N sử dụng để đăng nhập vào tài khoản Game, N đã bán cho một người không quen biết, N không biết rõ tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra chưa thu hồi được nên không có cơ sở để xem x t giải quyết.

Liên quan trong vụ án: Đối với nội dung N khai nhận sử dụng số tiền cầm cố xe để nạp tiền chơi game (hình thức đánh bạc) trên ứng dụng game Sunwin: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã tiến hành đăng nhập vào tài khoản “00nn00”, mật khẩu là “038099005756” trên ứng dụng Game Sunwin, tuy nhiên tài khoản đã bị khóa, không đăng nhập được, đồng thời Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã có Công văn số 216 ngày 06/4/2022 gửi Cục phát thanh truyền hình và thông tin điện tử Việt Nam để xác minh thông tin của tài khoản cũng như lịch sử giao dịch, thông tin tài khoản đối ứng của tài khoản game trên trong ứng dụng game Sunwin, tuy nhiên Cục phát thanh truyền hình và thông tin điện tử Việt Nam xác nhận Cục không cung cấp giấy ph p hoạt động nào cho ứng dụng game Sunwin, do đó không cung cấp được những thông tin như Cơ quan Cảnh sát điều tra yêu cầu. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du chưa làm rõ được hành vi đánh bạc của N, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau. Đối với anh O đã nhận cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 36B8-464.22 cho N, mặc dù anh O không biết chiếc xe do N phạm tội mà có nhưng anh O cầm cố chiếc xe khi không có giấy ủy quyền của chủ sở H nên Cơ quan Công an huyện Tiên Du đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23 ngày 14/5/2022 về hành vi “Nhận cầm cố tài sản thuộc sở H của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố” với hình thức phạt tiền (5.000.000đ) là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phạm tội phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Quách Văn N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 135, 136, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:Xử phạt bị cáo Quách Văn N 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2022. Quyết định tạm giam bị cáo Quách Văn N 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 588 và Điều 589 BLDS: Buộc bị cáo Quách Văn N phải hoàn trả anh Vũ Văn O số tiền 25.000.000 đ.

4. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng các Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Trả lại bị cáo 01 valy k o màu ghi xám, 01 ví da màu đen, 01 thẻ ATM Ngân hàng MB Bank; 01 thẻ ATM Ngân hàng Vietcombank; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S7 màu vàng nhưng tạm giữ chiếc điện thoại di động để đảm bảo thi hành án.

5. Về án phí: Bị cáo Quách Văn N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.250.000 đ án phí DSST.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ tiên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt kết quả bản án vắng mặt.

TH NH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT X

CHỦ T A PHIÊN TÒA NGUY N V N TẤN

DƯ NG THỊ NG N

TH CH THIÊN H

Cỡ chữ