- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Chu Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Xử phạt bị cáo Chu Văn L 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 17/8/2022.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2022/HS-ST Ngày 11-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thạo.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Kiên.
2. Bà Trần Thị Nhàn.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Đào – Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Chu Văn L, sinh năm 1990 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu V và bà Lương Thị S; có vợ là Nguyễn Thị T và có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 17/8/2022 và bị tạm giam từ ngày 26/8/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 17/8/2022, Chu Văn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển số 28L1-01xxx đi từ thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đến khu vực cầu vượt thuộc thị trấn Đồng Văn, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tìm mua ma túy sử dụng. Đến nơi L gặp một người đàn ông không quen biết đang đứng ở ven đường, L hỏi người này “Anh có biết chỗ nào lấy hàng thì mua hộ em một trăm”, người đàn ông đó trả lời “Đưa tiền đây”. L lấy trong túi quần ra 100.000 đồng đưa cho người đàn ông, người này cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô chở L ngồi sau đi đến khu vực xã Hoàng Tây, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam thì dừng xe và gặp một người thanh niên không quen biết đang đứng ở vệ đường. Người đàn ông đưa cho thanh niên kia 100.000 đồng và nói “Để cho quả một trăm”, người thanh niên cầm tiền rồi đưa cho L 01 gói nhỏ bên ngoài bọc nilon màu trắng hàn kín, L biết đó là ma túy nên cầm ở tay phải. Sau đó người đàn ông điều khiển xe mô tô chở L, khi đi đến đoạn đường liên thôn thuộc thôn Văn Bối, xã Nhật Tựu, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam thì bị Công an xã Nhật Tựu yêu cầu dừng xe kiểm tra, người đàn ông xuống xe rồi bỏ chạy, còn L bị bắt quả tang về hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại lòng bàn tay phải của Chu Văn L 01 gói nhỏ bên ngoài bọc bằng nilon màu trắng hàn kín, bên trong là lớp giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng, niêm phong trong phong bì kí hiệu QT01. Thu tại túi quần phía trước bên phải của L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, niêm phong trong phong bì kí hiệu QT02. Thu tại túi quần phía trước bên trái của L 01 ví giả da bên trong có 01 Giấy chứng minh nhân dân, 01 Giấy phép lái xe đều mang tên Chu Văn L; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 28L1-019.35 mang tên Đoàn Song Th. Tạm giữ của L 01 chiếc xe mô tô biển số 28L1-01xxx.
Tại bản Kết luận giám định số 433/KL-KTHS ngày 23/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì kí hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,157g (không phẩy một trăm năm mươi bảy gam), loại: Heroine.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐG ngày 29/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Kim Bảng kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, màu đỏ-đen-bạc; biển số 28L1-01xxx… xe cũ, đã qua sử dụng có giá trị hiện tại trên thị trường thời điểm tháng 9/2022 là 3.000.000đ (ba triệu đồng).
Tại bản Cáo trạng số 91/CT-VKS-KB ngày 25/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố bị cáo Chu Văn L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số Heroine đã thu giữ của bị cáo được hoàn trả lại sau giám định cùng bao gói mẫu vật; trả lại cho chị Nguyễn Thị T chiếc xe mô tô biển số 28L1-01xxx và Giấy chứng nhận đăng ký xe sau khi chị T có trách nhiệm nộp số tiền 1.500.000 đồng là 1/2 giá trị chiếc xe để nộp vào ngân sách Nhà nước; trả lại cho bị cáo L chiếc điện thoại di động Realme và 01 ví giả da,01 Giấy chứng minh nhân dân, 01 Giấy phép lái xe.
Tại phiên tòa, bị cáo Chu Văn L khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố và nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên; bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị là vợ của bị cáo Chu Văn L, chị và bị cáo L cùng sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô biển số 28L1-01xxx. Ngày 17/8/2022 bị cáo L tự ý lấy chiếc xe mô tô này đi nhưng chị không biết việc bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội, nay chị đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe nêu trên cho chị để làm phương tiện đi lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định đó. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời nhận tội của bị cáo Chu Văn L tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, bản kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập.
Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 17/8/2022, tại đường liên thôn thuộc thôn Văn Bối, xã Nhật Tựu, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, bị cáo Chu Văn L đang tàng trữ trái phép 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,157 gam với mục đích để sử dụng thì bị Công an xã Nhật Tựu, huyện Kim Bảng bắt quả tang.
Tính chất, mức độ tội phạm bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lí chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu tới nếp sống văn minh, lành mạnh cũng như gây mất ổn định tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Do vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Từ những phân tích nêu trên, xét thấy cần xử phạt nghiêm minh bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
- Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập, không có tài sản riêng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, do đó miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy: Tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa không đủ căn cứ để xác định được nguồn gốc số ma túy đã thu giữ và đối tượng có liên quan để xử lý.
Về xử lý vật chứng: Đối với số Heroine đã thu giữ gửi đi giám định được hoàn trả lại là vật cấm tàng trữ, do vậy cần tịch thu, tiêu huỷ. Đối với chiếc xe mô tô biển số 28L1-01xxx, theo kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản huyện Kim Bảng thì trị giá chiếc xe là 3.000.000 đồng, chiếc xe này là tài sản được tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân nên là tài sản chung hợp pháp của bị cáo L với chị Nguyễn Thị T, khi bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội thì chị T không biết, do vậy cần trả lại chiếc xe mô tô nêu trên và Giấy chứng nhận đăng ký xe cho chị T sau khi chị T thực hiện xong nghĩa vụ nộp số tiền 1.500.000 đồng (1/2 giá trị chiếc xe mô tô của bị cáo) để nộp vào ngân sách Nhà nước. Đối với 01 chiếc điện thoại di động Realme, 01 ví giả da, 01 Giấy chứng minh nhân dân, 01 Giấy phép lái xe là tài sản, giấy tờ của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo, song cần tạm giữ chiếc điện thoại tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng để đảm bảo thi hành án về phần án phí đối với bị cáo.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:
1. Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Chu Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Xử phạt bị cáo Chu Văn L 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 17/8/2022.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu huỷ số ma túy được niêm phong trong phong bì có số 433/KL-KTHS, ghi Mẫu vật hoàn trả QT01, có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, màu đỏ-đen-bạc; biển số: 28L1-01xxx, số máy: C52E-5052567; số khung: 5222CY622791, loại xe 02 chỗ ngồi, dung tích xi lanh từ 50cc đến dưới 175cc, xe cũ, đã qua sử dụng và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Đoàn Song Th sau khi chị T thực hiện xong nghĩa vụ nộp 1/2 giá trị của chiếc xe là 1.500.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
- Trả lại cho bị cáo Chu Văn L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh, màn hình cảm ứng, bên trong điện thoại gắn 01 sim Viettel, điện thoại cũ đã qua sử dụng và 01 chiếc ví giả da màu xanh, 01 chứng minh nhân dân mang tên Chu Văn L, 01 giấy phép lái xe mang tên Chu Văn L, song cần tạm giữ chiếc điện thoại Realme tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam để đảm bảo thi hành án về phần án phí đối với bị cáo.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/10/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Chu Văn L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Kim Bảng; - Trại tạm giam CA tỉnh Hà Nam; - Công an huyện Kim Bảng; - Chi cục THADS huyện Kim Bảng; - Bị cáo và người có QLNVLQ; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Thạo |