- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91 /2022/HS-ST Ngày 29 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Xuân Tuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Đức Thuận
2. Ông Nguyễn Xuân Hùng
Thư ký phiên toà: Bà Doãn Phương Liên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tò: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 80/2022/TLST-HS ngày 25/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2022/QĐXXST-HS ngày 16/12/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dƣơng Văn T, sinh năm 1978, tại xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hoá; Nơi cư trú: Thôn Làng M, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn V1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; Có vợ là Trần Thị H nhưng đã ly hôn năm 2012 và 01 con.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/8/2022 đến ngày 03/9/2022 chuyển tạm tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Nông Cống (Có mặt).
Nhân thân:
+ Ngày 16/4/2007, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 18 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, theo bản án số 16/2007/HSPT.
+ Ngày 23/3/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 18 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, theo bản án số 17/2010/HSST.
+ Ngày 25/9/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 45 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 17/2014/HSST.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
1. Anh Lê Thanh T1, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tiểu khu G, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
2. Anh Ngô Minh T2, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn M1, xã T3, huyện N, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 10 giờ ngày 25/8/2022, Lê Thanh T1, sinh năm 1993 ở tiểu khu G, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa có nhờ anh Ngô Minh T2 ở thôn M1, xã T3, huyện N, tỉnh Thanh Hóa chở đến nhà Dương Văn T. Đến nơi T2 đứng ngoài cổng, còn T1 vào nhà T hỏi mua ma túy. T đồng ý bán cho T1 - 01 (một) gói ma túy loại Heroine với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, T1 ra về đến tiểu khu G, thị trấn N, huyện N thì bị tổ tuần tra Công an huyện Nông Cống phát hiện, lập biên bản về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ trên người Thủy gồm: 01 gói giấy bên ngoài được bọc bằng túi nilon màu vàng, bên trong chứa chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà nghi là ma túy (Heroin) có kích thước 1 x 1,5cm. Vật chứng được bỏ vào phong bì thư viền xanh - đỏ, dán kín và niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên: Dương Hải Nam, Lê Thanh Thủy, Ngô Minh Thành và Nguyễn Văn Công cùng 05 hình con dấu của Công an thị trấn Nông Cổng, phong bì được ký hiệu M1.
Lê Thanh T1 khai nhận số ma túy trên T1 vừa mua của Dương Văn T, sinh năm 1978 ở Làng M, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Cơ quan Cảnh sát điều tra (Viết tắt là CSĐT) Công an huyện Nông Cổng tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Dương Văn T và thu giữ dưới gầm tủ tại phòng ngủ tầng 2 của Dương Văn T 01 gói nhỏ được bọc bên ngoài bằng giấy, bên trong chứa chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà T khai là ma túy cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Nông Cống lập biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, ký hiệu M2; ngoài ra T tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A8 có số Imei 35215809218860 có lắp 02 sim số thuê bao là 0337 480 516, 0904 730 242 và 200.000đ tiền bán ma túy cho T1 mà có.
Về nguồn gốc ma túy Dương Văn T khai nhận: Vào ngày 24/8/2022, T đi mua củi ở lâm trường S thuộc xã Q, huyện X, tỉnh Thanh Hóa. Khi đi về đến thị trấn Y, huyện X thì T gặp một người đàn ông mà T quen từ trước và đã từng sử dụng ma túy cùng T, T không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này ở đâu. T đưa cho người này 300.000đ nhờ mua ma túy. Sau khi mua được ma túy, người này về đưa cho T và được T trả công 50.000 đồng. T đem ma túy về nhà chia làm 03 phần, T sử dụng 01 phần, 01 phần T gói lại bán cho T1, còn lại 01 phần T cất giấu mục đích có ai hỏi mua thì bán. Trưa ngày 25/8/2022 khi T đang ở nhà thì có Lê Thanh T1 gọi điện thoại hỏi mua ma túy, T đồng ý bán. Một lúc sau thì T1 đến nhà và đưa cho T 200.000 đồng, đồng thời T đưa cho T1 - 01 gói ma túy (loại Heroin) được bọc bằng giấy bên ngoài là túi nilon màu vàng rồi T1 ra về.
Ngày 27/8/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống đã ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy. Tại bản kết luận giám định số 2952/KL-KTHS ngày 31/8/2022 của kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận:
- Chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,112g (không phẩy một một hai gam), loại Heroin
- Chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bị niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,016g (không phẩy không một sáu gam), loại Heroin.
Đối với Lê Thanh T1 đã có hành vi mua trái phép 0,016g (không phẩy không một sáu gam), loại Heroin của Dương Văn T để sử dụng. Tuy nhiên khối lượng ma túy chưa đủ định lượng để xử lý hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mặt khác, T1 chưa có tiền án, tiền sự nên ngày 05/9/2022 cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Thanh T1.
Đối với Ngô Minh T2 là người chở Lê Thanh T1 đến nhà T. Tuy nhiên T2 không biết T1 đến nhà T để mua ma túy nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với T2.
Về tài sản thu giữ và vật chứng vụ án, gồm:
- Toàn bộ bao gói niêm phong của phong bì ký hiệu M1, M2 và các mẫu vật còn lại sau giám.
- 01 diện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A8 có số Imei 35215809218860 có lắp 02 sim số thuê bao 0337480 516 và 0904730242
- 02 tờ tiền Polime mỗi tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 86/CT-VKSNC ngày 24/11/2022 Viện kiểm sát nhân dân (Viết tắt là VKSND) huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Dương Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự (Viết tắt là BLHS).
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Nông Cống giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (Viết tắt là HĐXX) áp dụng: Khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt Dương Văn T mức án từ 26 đến 30 tháng tù, phạt bổ sung 5.000.000đ đến 10.000.000đ; tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước 01 diện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A8; 02 tờ tiền Polime mỗi tờ tiền có mệnh giá 100.000 đồng và đề nghị tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan và người trong cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (Viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định.
Quá trình điều tra và tại phiên toà xác định được: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/8/2022, tại nhà của Dương Văn T ở Làng M, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Dương Văn T đã có hành vi bán trái phép 0,016g, loại Heroin cho Lê Thanh T1 ở tiểu khu G, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa lấy tiền 200.000đ. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Dương Văn T Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nông Cống thu giữ dưới gầm tủ tại phòng ngủ tầng 2 của Dương Văn T 01 gói nhỏ được bọc bên ngoài bằng giấy, bên trong chứa chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà có khối lượng 0,112g, loại Heroin. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với vật chứng thu được và các tài liệu, chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ vụ án.
Xét tính chất của vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Đây là vụ án thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Các tội phạm về ma tuý đang là vấn nạn trong đời sống xã hội, làm tha hoá về mặt đạo đức và lối sống của một bộ phận không nhỏ tầng lớp thanh thiếu niên, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình hình tội phạm và các loại tệ nạn khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục và phòng ngừa chung. Hành vi mua bán trái phép tổng trọng luợng (khối lượng) 0,128 (Không phẩy một hai tám gam) loại: Heroin như kết luận giám định của Dương Văn T là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của nhà nước, mặc dù bị cáo biết rõ tác hại của ma tuý và hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra nhưng vì hám lời nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Đủ cơ sở để HĐXX khẳng định hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 BLHS. Cáo trạng của VKSND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa truy tố đối với bị cáo là chính xác.
Đánh giá về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 3 lần bị Tòa án các cấp xử phạt tù trong đó có 01 lần bị xử về tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đấy làm bài học cho mình để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có mẹ là bà Nguyễn Thị L là người có công được tặng Huân Chương kháng chiến nên HĐXX áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS, để giảm nhẹ một phần hình sự cho bị cáo.
Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo HĐXX xét thấy cần áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất của vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội. Bị cáo mua bán trái phép chất ma túy với mục đích lợi nhuận nên áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS phạt bổ sung bị cáo một số tiền nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án gồm:
- 01 phong bì niêm phong do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được dán kín chứa mẫu vật còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu và tiêu huỷ;
- Đối với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) là tiền do phạm tội mà có nên áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 diện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A8 là công cụ dùng vào việc phạm tội nên áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QuyÕt ®Þnh:
Căn cứ: Khoản 1, 5 Điều 251 BLHS;
Tuyên bố Dương Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
Áp dụng: Khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 BLHS và Điều 329 BLTTHS:
Xử phạt: Dương Văn T 27 ( Hai mươi bảy) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày tạm giữ (25/8/2022). Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
- Phạt bổ sung Dương Văn T 5.000.000đ ( Năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu nộp vào ngân sách số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và 01 diện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A8.
- Tịch thu và tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong bên trong đựng mẫu vật hoàn trả lại sau giám định.
Vật chứng của vụ án được mô tả như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Nông Công và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nông Cống lập ngày 25/11/2022.
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc Dương Văn T phải nộp 200.000đ án phí HSST.
Án xử công khai, sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Nông Cống; - Công an huyện Nông Cống; - Cơ quan THA hình sự; - Chi cục THADS huyện Nông Cống; - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Xuân Tuyên |