- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Xuân T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2022/HS-ST Ngày:22/6/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Ninh
Bà Nguyễn Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn T1 Đạt
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa: Bà Tô Thị Thu Trang- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo: Lê Xuân T - Sinh năm: 1987; Nơi cư trú: Th, Th1, H, Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Lê Xuân Y – sinh năm 1958; Họ tên mẹ: Phạm Thị Tr - sinh năm 1960; Gia đình có ba chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không.
Bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 16/1/2021, đến ngày 22/1/2021 huỷ bỏ biện pháp tạm giữ. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Bị cáo T có mặt tại phiên tòa.)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 20 phút ngày 16/1/2021, tổ công tác công an xã Y1 phối hợp công an xã Đ Công an huyện G làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực thôn Q, Y1, G, Hà Nội, kiểm tra Lê Xuân T, phát hiện ở lòng bàn tay trái của T có 01 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng bên trong có chứa chất bột màu trắng; 01 viên nén hình tròn màu hồng và 01 mảnh viên nén màu hồng. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ và niêm phong vật chứng, đưa Lê Xuân T cùng vật chứng về trụ sở để làm rõ.
Vật chứng thu giữ của T gồm: 01 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng bên trong chứa chất bột màu trắng, 01 viên nén hình tròn màu hồng và 01 mảnh viên nén màu hồng. 01 ví da màu nâu bên trong có 01 CMND tên Lê Xuân T, 01 giấy phép lái xe tên Lê Xuân T. 01 xe máy BKS 36P5-8825, số khung RLHHC12089Y117403, số máy: HC12E1686662. 01 điện thoại Redmi K30 5G mặt lưng màu đỏ, màn hình cảm ứng màu đen.
Tại bản Kết luận giám định số 755/KLGĐ-PC09, ngày 22/1/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 tờ tiền 1.000 VNĐ là ma tuý loại Heroine, khối lượng: 0,131 gam; 01 viên nén màu hồng và 01 mảnh viên nén màu hồng đều là ma tuý loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,138 gam”.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Lê Xuân T khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 16/1/2021, T mượn xe máy Honda Wave BKS 36P5-8825 của anh Nguyễn Văn T1 (là công nhân cùng làm) để đi có việc, T điều khiển xe máy đi từ lán trọ tại L đến T2, Bắc Ninh để mua ma tuý về sử dụng. Khi đến T2, Bắc Ninh, T rẽ vào một nghĩa trang mua ma tuý Heroine và ma tuy hồng phiến của một người phụ nữ không rõ nhân thân với giá 250.000 đồng và được nhận ma tuý được gói trong một tờ tiền mệnh giá 1000 đồng. T điều khiển xe máy đi về khu vực nghĩa trang thôn Q, Y1, G thì bị cơ quan công an bắt quả tang. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp vật chứng đã thu giữ, phù hợp lời khai người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra xác định T có tiền sử bệnh tâm thần, Cơ quan điều tra Công an huyện G đã trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với T. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 44 ngày 26/1/2022 của Viện pháp y tâm thần trung ương Bộ y tế kết luận: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 16/1/2021 và tại thời điểm giám định bị can Lê Xuân T có hội chứng nghiện nhiều loại ma tuý trên người bệnh động kinh toàn thể cơn lớn chưa có biến đổi nhân cách. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F19.2/G40.6. Tại các thời điểm trên bị cáo đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Đối với đối tượng bán ma túy cho T do không xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với xe máy Wave BKS 36P5-8825, số máy 1686662, số khung 117403, qua điều tra xác định chủ xe là Nguyễn Văn T1, sinh năm 1975, trú tại Th1, H, Thanh Hoá. Ngày 16/1/2021, T mượn xe của anh T1, anh T1 không biết T dùng xe máy để đi mua ma tuý. Ngày 02/2/2021, Cơ quan điều tra Công an huyện G đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả cho anh Nguyễn Văn T1 chiếc xe máy trên.
Đối với 01 điện thoại Redmi K30 5G mặt lưng màu đỏ, màn hình cảm ứng màu đen thu giữ của T, qua kiểm tra không có nội dung liên quan đến việc vi phạm pháp luật.
Bản cáo trạng số: 87/CT-VKSGL ngày 31-5-2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã truy tố Lê Xuân T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên Tòa:
Bị cáo T thừa nhận và đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra thấy rằng: Hành vi của bị cáo Lê Xuân T có đủ dấu hiệu cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và 47 của Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106 BLTTHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo T mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/01/2021 đến ngày 22/01/2021
Về hình phạt bổ sung : Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị cho tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo là vật nhà nước cấm lưu hành gồm:
- 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên cán bộ niêm phong Bùi Hải Việt và đương sự Lê Xuân T bên trong là ma túy loại Heroine khối lượng 0,107 gam (không phẩy một không bảy gam) đã trích mẫu 0,024 gam (không phẩy không hai bốn) và ma túy loại Methamphetamine tổng khối lượng 0,098 gam (không phẩy không chín tám) đã trích mẫu 0,040 gam (không phẩy không bốn không).
Đề nghị cho sung công:
- 01 (một) gói niêm phong có chữ ký xác nhận niêm phong của Giám định viên và của đối tượng Lê Xuân T, cán bộ công an xã Đ. Bên trong gói niêm phong có 01 (một) tờ tiền mệnh giá 1000đ (một nghìn đồng) tiền ngân hàng nhà nước việt Nam đang lưu hành.
Đề nghị trả lại cho bị cáo T:
- 01chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi K305G mặt lưng màu đỏ, màn hình màu đen thu giữ của T. Qua điều tra xác định là tài sản củaT, T không dùng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 (một) ví da màu nâu bên trong có: 01 (một) CMND mang tên Lê Xuân T và 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Lê Xuân T.
Nói lời sau cùng bị cáo T có mặt tại phiên tòa, quá trình điều tra nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
. Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt:
Xét lời khai nhận của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đồng nhất không có mâu thuẫn, tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo Lê Xuân T thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 20 phút ngày 16/1/2021, tại thôn Q, Y1, G, Hà Nội, Lê Xuân T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy Heroine có khối lượng là 0,131 gam và ma túy Methamphetamine có khối lượng là 0,138 gam, mục đích để sử dụng thì bị cơ quan Công an huyện G kiểm tra bắt giữ cùng vật chứng
Hành vi của bị cáo Lê Xuân T đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã cố ý xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo.
.Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét nhân thân bị cáo có 01 tiền sự án đã được xóa. Song xét về hành vi, tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm bị cáo gây ra thấy cần thiết cần phải áp dụng một hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị cáo: Khi lượng hình cũng xem xét, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
Đại diện VKS đề nghị mức hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.
Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo T không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đại diện VKS đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.
Về xử lý vật chứng:
Cho tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo là vật nhà nước cấm lưu hành gồm:
- 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên cán bộ niêm phong Bùi Hải Việt và đương sự Lê Xuân T bên trong là ma túy loại Heroine khối lượng 0,107 gam (không phẩy một không bảy gam) đã trích mẫu 0,024 gam (không phẩy không hai bốn) và ma túy loại Methamphetamine tổng khối lượng 0,098 gam (không phẩy không chín tám) đã trích mẫu 0,040 gam (không phẩy không bốn không).
Cho sung công:
- 01 (một) gói niêm phong có chữ ký xác nhận niêm phong của Giám định viên và của đối tượng Lê Xuân T, cán bộ công an xã Đ. Bên trong gói niêm phong có 01 (một) tờ tiền mệnh giá 1000đ (một nghìn đồng) tiền ngân hàng nhà nước việt Nam đang lưu hành.
Trả lại cho bị cáo T:
- 01chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi K305G mặt lưng màu đỏ, màn hình màu đen thu giữ của T. Qua điều tra xác định là tài sản của T, T không dùng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 (một) ví da màu nâu bên trong có: 01 (một) CMND mang tên Lê Xuân T và 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Lê Xuân T.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của HĐXX
Đối với đối tượng bán ma túy cho T do không xác định được nhân thân nên nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện G không có căn cứ để xử lý là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với xe máy Wave BKS 36P5-8825, số máy 1686662, số khung 117403, qua điều tra xác định chủ xe là Nguyễn Văn T1, sinh năm 1975, trú tại Th1, H, Thanh Hoá. Ngày 16/1/2021, T mượn xe của anh T1, anh T1 không biết T dùng xe máy để đi mua ma tuý. Ngày 02/2/2021, Cơ quan điều tra Công an huyện G đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả cho anh Nguyễn Văn T1 chiếc xe máy trên là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.
Bị cáo Lê Xuân T phải chịu 200.000 đồng án phí HSST theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
1. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt: Lê Xuân T 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/01/2021 đến ngày 22/01/2021
2.Về hình phạt bổ sung : Không áp dụng
3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
- Cho tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo là vật nhà nước cấm lưu hành gồm:
01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên cán bộ niêm phong Bùi Hải Việt và đương sự Lê Xuân T bên trong là ma túy loại Heroine khối lượng 0,107 gam (không phẩy một không bảy gam) đã trích mẫu 0,024 gam (không phẩy không hai bốn) và ma túy loại Methamphetamine tổng khối lượng 0,098 gam (không phẩy không chín tám) đã trích mẫu 0,040 gam (không phẩy không bốn không).
- Cho sung công:
01 (một) gói niêm phong có chữ ký xác nhận niêm phong của Giám định viên và của đối tượng Lê Xuân T, cán bộ công an xã Đ. Bên trong gói niêm phong có 01 (một) tờ tiền mệnh giá 1000đ (một nghìn đồng) tiền ngân hàng nhà nước việt Nam đang lưu hành.
- Trả lại cho bị cáo T: + 01chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi K305G mặt lưng màu đỏ, màn hình màu đen thu giữ của T. Qua điều tra xác định là tài sản của T, T không dùng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội. +01 (một) ví da màu nâu bên trong có: 01 (một) CMND mang tên Lê Xuân T và 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Lê Xuân T.
(Có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện G theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 /6 /2022)
4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5 . Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Án xử công khai sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
| Nơi nhận - TAND tp. Hà Nội; - VKSND huyện G; - VKSND tp. Hà Nội; - Công an huyện G; - Chi cục Thi hành án DS huyện G; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ - Lưu VP/TA | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Viết Tuấn |