vanban.org

Bản án 91/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 17/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí H 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2022. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Chi Hieu Dieu 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 91/2022/HS-ST
Ngày: 17 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Ghên

Bà Lê Thị Xuân Đào

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Chí H, sinh ngày 02/4/1966, tại Sóc Trăng;

Nơi cư trú: Số 199B đường N, khóm 1, phường 9, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Lệ C; có 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2003 (đã mất); Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 320/2006/HSPT ngày 27/3/2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Nguyễn Chí H 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 30/8/2011, đã đương nhiên được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2022 cho đến nay (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Mai Hồng H, sinh năm 1971. Địa chỉ: Số 148A, đường Đ, phường C, Quận M, thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Người làm chứng:

1/ Trịnh Minh S, sinh năm 2000. Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện Đ, tỉnh Long An. (vắng mặt)

2/ Phạm Tăng Đình K, sinh năm 2001. Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện Đ, tỉnh Long An. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 11/02/2022, bị cáo Nguyễn Chí H đi xe buýt từ tiệm game bắn cá thuộc ấp M, xã N, huyện Đ, tỉnh Long An đến bến xe An Sương thuộc Thành Phố Hồ Chí Minh rồi đi xe ôm đến khu vực cầu Tân Thới H thuộc quận 12, Thành Phố Hồ Chí Minh để tìm mua ma túy nhằm mục đích sử dụng. Tại đây, bị cáo H gặp 01 nam thanh niên không rõ nhân thân lai lịch và hỏi mua ma túy dạng đá của nam thanh niên trên với số tiền 900.000 đồng thì người nam thanh niên đồng ý bán cho bị cáo H 01 bịch nylon rãnh khép viền đỏ bên trong chứa ma túy (dạng đá), bị cáo H cất giấu vào trong túi áo khoác đen đang mặc phía trong bên trái rồi đi xe buýt về chỗ ở của bị cáo H trong khu dân cư Xuyên Á thuộc ấp M, xã N, huyện Đ, tỉnh Long An. Bị cáo H lấy bịch ma túy vừa mua chiết ra 06 tép nylon nhỏ chứa chất ma túy dạng đá, số ma túy còn lại bị cáo H để trong bịch nylon rãnh khép viền đỏ. Sau đó, bị cáo H đã sử dụng hết 03 tép ma túy còn lại 03 tép ma túy và 01 bịch nylon rãnh khép viền đỏ còn lại bị cáo H cất vào hộp nhựa màu trắng rồi cất giấu trong túi áo khoác đen phía trong bên trái của mình để dành sử dụng.

Đến khoảng 22 giờ 40 phút ngày 15/02/2022, trong lúc đang ngồi phía trước tiệm game bị cáo H làm thuê thấy ông Mai Hồng H chạy xe mô tô Grab nên bị cáo H gọi ông H chở bị cáo H về chỗ ở của bị cáo H, ông H đồng ý điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, màu xanh, biển số 59G2-787.22 chở bị cáo H ngồi phía sau. Khi đến đoạn đường nhựa trong khu dân cư Xuyên Á lúc 23 giờ cùng ngày 15/02/2022 thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang, tạm giữ người và vật chứng vụ án.

Vật chứng thu giữ gồm có:

- 01 bịch nylon rãnh khép viền đỏ bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy (dạng đá).

- 02 bịch nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy (dạng đá).

- 01 đoạn ống nhựa trắng hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy (dạng đá).

- 01 hộp nhựa màu trắng.

- 01 áo khoác màu đen dài tay.

Tại bản Kết luận giám định số 126/KT-KTHS ngày 23/02/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Long An, kết luận:

“Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền đỏ, 02 (hai) gói nylon hàn kín và 01 (một) đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 2,3881 gam, loại: Methamphetamine.

…

Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 2,1714 gam, được đóng gói niêm phong số 126.”

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Chí H hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, kH nại về kết luận giám định, đồng thời không kH nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Tại bản cáo trạng số 89/CT-VKSĐH ngày 26 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Chí H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H mức hình phạt từ 2 năm 6 tháng tù đến 3 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2022; áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Chí H 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy:

- 01 gói niêm phong số 126 của của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An bên trong có khối lượng: 2,1714 gam mẫu vật còn lại sau giám định

- 01 hộp nhựa màu trắng.

- 01 áo khoác màu đen dài tay.

Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Nguyễn Chí H không có thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị không đề cập, xem xét.

Đối với ông Mai Hồng H là người chạy xe mô tô Grab chở bị cáo Nguyễn Chí H, do ông H không biết việc bị cáo H tàng trữ chất ma túy trên người, không cấu thành tội phạm có liên quan nên đề nghị không xem xét.

Đối với người thanh niên bán chất ma túy cho bị cáo Nguyễn Chí H do không xác định nhân thân lai lịch, chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo H nên Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét làm rõ xử lý sau.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Về nội dung:

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Chí H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang vào lúc 23 giờ 00 phút ngày 15 tháng 02 năm 2022 cùng với bản kết luận giám định số 126/KT-KTHS ngày 23 tháng 02 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Long An và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

Bị cáo Nguyễn Chí H là người nghiện ma túy, khoảng 23 giờ 00 ngày 15/02/2022, tại ấp M, xã N, huyện Đ, tỉnh Long An, bị cáo Nguyễn Chí H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng: 2,3881 gam, loại: Methamphetamine (cất giấu trong túi áo khoác đen đang mặc trên người) với mục đích để sử dụng.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây thiệt hại lớn về kinh tế, gây tổn hại sức khỏe con người, làm suy thoái nòi giống, gây mất trật tự xã hội.

Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của ma túy đối với xã hội và bản thân bị cáo. Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những nguyên nhân của nhiều tội phạm khác, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, bị nghiêm cấm vận chuyển, mua bán, tàng trữ dưới bất kỳ hình thức nào nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Chí H đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Chí H theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội bị cáo H còn có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo H có lời trình bày hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Chí H.

. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Đối với 01 gói niêm phong số 126 của của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An bên trong có khối lượng: 2,1714 gam mẫu vật còn lại sau giám định: là chất cấm nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 hộp nhựa màu trắng; 01 áo khoác màu đen dài tay: bị cáo không có yêu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

. Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Nguyễn Chí H không có thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên không đề cập, xem xét.

. Đối với ông Mai Hồng H là người chạy xe mô tô Grab chở bị cáo Nguyễn Chí H, do ông H không biết việc bị cáo H tàng trữ chất ma túy trên người, không cấu thành tội phạm có liên quan nên không xem xét.

Đối với người thanh niên bán chất ma túy cho bị cáo Nguyễn Chí H do không xác định nhân thân lai lịch, chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo H, Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét làm rõ xử lý sau là phù hợp nên không xem xét.

. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Chí H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí H 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2022.

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Chí H 45 ngày kể từ ngày tuyên án (17/8/2022) để đảm bảo thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 gói niêm phong số 126 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An bên trong có khối lượng: 2,1714 gam mẫu vật còn lại sau giám định

+ 01 hộp nhựa màu trắng.

+ 01 áo khoác màu đen dài tay.

Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 98 ngày 27/7/2022.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Chí H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

4. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án

Cỡ chữ