vanban.org

Bản án 91/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 15/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 27/9/2022. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LỘC
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2022/HS-ST
Ngày 15-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Duyện

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Dương Thị Huệ

Bà Tô Thị Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mạc Thị Sầm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Vy Tiến Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Hoàng Văn T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1994 tại: Huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Hoàng Văn M và bà Hứa Thị Ph; vợ: Nông Thị Nh; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/9/2022, tạm giam từ ngày 30/9/2022 đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Hoàng Văn M, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Lý Văn H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 00 phút, ngày 27/9/2022, tổ công tác Công an huyện Cao Lộc phối hợp với Công an xã Thanh Lòa và Đồn Biên phòng Ba Sơn làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực thôn C, xã Th, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì phát hiện Hoàng Văn T, sinh năm 1994, trú tại Thôn N, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12K9-9xxx có biểu hiện nghi vấn hoạt động tội phạm nên tổ công tác đã dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, phát hiện và thu giữ trên người Hoàng Văn T 01 (một) gói giấy nhỏ màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột màu trắng và 01 (một) tờ tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng bên trong có chứa các cục chất bột màu trắng. Hoàng Văn T khai nhận chất bột và cục chất bột màu trắng Công an huyện Cao Lộc thu giữ là chất ma túy Heroine. Xác định có dấu hiệu tội phạm về ma túy nên tổ công tác đã đưa Hoàng Văn T cùng các vật chứng gồm: 01 (một) gói giấy nhỏ màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột màu trắng; 01 (một) tờ tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng bên trong có chứa các cục chất bột màu trắng; số tiền 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động REALME màu xanh; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WAVE S màu trắng biển kiểm soát 12K9-9xxx; 01 (một) căn cước công dân mang tên Hoàng Văn T về trụ sở Công an xã Thanh Lòa lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong thu giữ các vật chứng theo quy định.

Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Văn T khai nhận: Khoảng 19 giờ, ngày 26/9/2022 Hoàng Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12K9-9xxx của gia đình đi đến khu vực cổng trước chợ Bờ Sông thuộc phường V, thành phố L để tìm mua ma túy về sử dụng thì gặp 01 người đàn ông khoảng 40 tuổi không rõ họ, tên địa chỉ cụ thể, Hoàng Văn T đưa cho người đàn ông này 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) để đi mua ma túy giúp cho Hoàng Văn T. Người đàn ông này cầm 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) của Hoàng Văn T đi mua chất ma túy và khoảng 10 phút sau thì quay lại đưa cho Hoàng Văn T 01 (một) gói giấy nhỏ màu trắng bên trong chứa cục chất ma túy Heroine. Sau đó Hoàng Văn T cho người đàn ông này cùng sử dụng ma túy 01 (một) lần bằng hình thức chích tại khu vực chợ Bờ Sông rồi đem số ma túy còn lại về nhà tiếp tục sử dụng thêm 01 (một) lần, số còn lại Hoàng Văn T chia nhỏ thành 02 (hai) gói và cất giấu trên người để tiện sử dụng. Đến ngày 27/9/2022 Hoàng Văn T đem theo số ma túy trên theo người, khi di chuyển đến khu vực thôn C, xã Th, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn bắt quả tang.

Bản Kết luận giám định số 344/KL-KTHS ngày 30/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng và các cục chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,158 gam (đã trừ bì).

Kết luận giám định số 398/KL-KTHS ngày 01/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Toàn bộ số tiền 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng) tiền Việt Nam niêm phong trong phong bì và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng (một nghìn đồng) bị cáo Hoàng Văn T dùng gói ma túy gửi giám định đều là tiền thật.

Đối với các vật chứng thu giữ trong vụ án, Cơ quan điều tra đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lộc để xử lý theo quy định.

Đối với người đàn ông đã đi mua chất ma túy cho Hoàng Văn T ở khu vực chợ Bờ Sông thuộc phường V, thành phố L ngày 26/9/2022, do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh, làm rõ để xử lý trong vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 85/CT-VKS ngày 22/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Hoàng Văn M trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu WAWE S, màu trắng, biển kiểm soát 12K9-9xxx ông là chủ sở hữu, ngày 26/9/2022 Hoàng Văn T mượn xe mô tô của ông để đi đám ma trong xóm nên ông đã đồng ý cho mượn, còn việc Hoàng Văn T sử dụng xe mô tô đi mua ma túy ông không biết, ông mong Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho ông chiếc xe mô tô để ông sử dụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, vì bị cáo là người nghiện ma túy, nghề nghiệp lao động tự do thu nhập không ổn định, sống phụ thuộc gia đình.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự - Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì màu trắng của Công an huyện Cao Lộc có chữ “QUẢ TANG HOÀNG VĂN T”, có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình Chiến và Bùi Anh Thái trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lại. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng tổng cộng 0,123 gam chất ma túy heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) là chất cấm lưu hành và 01 (một) vỏ gói giấy cũ.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 1.000 đồng (một nghìn đồng) của bị cáo Hoàng Văn T dùng để gói ma túy.

- Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REALME màu xanh có số IMEI 1: 867366041469419, số IMEI 2: 867366041469401, máy cũ đã qua sử dụng, 01 (một) Căn cước công dân mang tên Hoàng Văn T và số tiền 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng).

- Trả lại cho ông Hoàng Văn M 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WAWE S, màu trắng, biển kiểm soát 12K9-9xxx, xe cũ đã qua sử dụng.

Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo phù hợp với các chứng cứ khác và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người chứng kiến anh Lý Văn H vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của người chứng kiến không ảnh hưởng đến việc xét xử vì trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của họ. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Hoàng Văn T, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, do đó có căn cứ xác định: Hồi 13 giờ 00 phút, ngày 27/9/2022 tổ công tác Công an huyện Cao Lộc phối hợp với Công an xã Thanh Lòa và Đồn Biên phòng Ba Sơn làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực thôn C, xã Th, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì phát hiện và bắt quả tang Hoàng Văn T đang cất giấu trên người 01 (một) gói giấy nhỏ màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột màu trắng; 01 (một) tờ tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng bên trong có chứa các cục chất bột màu trắng là chất ma túy Heroine có tổng khối lượng 0,158 gam (đã trừ bì). Mục đích bị cáo Hoàng Văn T cất giấu ma túy trên người là để sử dụng dần. Như vậy, hành vi của bị cáo Hoàng Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Văn T thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Khi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, do vậy bị cáo có đủ khả năng để nhận thức việc tàng trữ trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào đều là trái với quy định của pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, hành vi đó cũng là nguyên nhân gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Để góp phần đấu tranh phòng và chống tội phạm, giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội cần phải xử lý nghiêm để răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn theo tội danh và điều khoản trong Bộ luật Hình sự như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Để có căn cứ quyết định hình phạt đối với bị cáo, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, qua đó ấn định mức hình phạt phù hợp đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Hoàng Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo Hoàng Văn T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Nên xác định bị cáo có nhân thân tốt.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo Hoàng Văn T ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...’’. Tuy nhiên trong các biên bản xác minh về tài sản đối với bị cáo Hoàng Văn T thể hiện bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị, bị cáo nghiện ma túy, nghề nghiệp lao động tự do thu nhập không ổn định. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Hoàng Văn T.

Đối với người đàn ông đã đi mua chất ma túy cho Hoàng Văn T ở khu vực chợ Bờ Sông thuộc phường V, thành phố L ngày 26/9/2022, do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh, làm rõ để xử lý trong vụ án, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) phong bì màu trắng của Công an huyện Cao Lộc có chữ “QUẢ TANG HOÀNG VĂN T”, có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình Chiến và Bùi Anh Thái trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng kỹ thuật Hình sự tại phần giáp lại. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng tổng cộng 0,123 gam chất ma túy heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và 01 (một) vỏ gói giấy cũ, là chất cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng (một nghìn đồng) tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam, bị cáo Hoàng Văn T dùng để gói ma túy, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng) tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam, là số tiền của bị cáo không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REALME màu xanh có số IMEI 1: 867366041469419, số IMEI 2: 867366041469401, máy cũ đã qua sử dụng của bị cáo Hoàng Văn T, không dùng vào việc phạm tội, trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T

Đối với 01 (một) Căn cước công dân mang tên Hoàng Văn T, đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo, không liên quan đến tội phạm, trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WAWE S, màu trắng, biển kiểm soát 12K9-9xxx, số máy: JC52E4039605, số khung: JC5210CY033231, xe cũ đã qua sử dụng, chủ sở hữu là ông Hoàng Văn M, khi bị cáo Hoàng Văn T sử dụng xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội, ông Hoàng Văn M không biết, ông chỉ biết bị cáo mượn chiếc xe trên sử dụng đi hộ đám ma ở trong xóm, nên cần trả lại cho ông Hoàng Văn M.

Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn T là người bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Khoản 1; điểm a, c khoản 2 và điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ khoản 1 Điều 293 và các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 27/9/2022.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì màu trắng của Công an huyện Cao Lộc có chữ “QUẢ TANG HOÀNG VĂN T”, có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình Chiến và Bùi Anh Thái trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng kỹ thuật Hình sự tại phần giáp lại. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng tổng cộng 0,123 gam chất ma túy heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và 01 (một) vỏ gói giấy cũ.

3.2. Tịch thu nộp ngân sách nhà nhà nước 1.000 đồng (một nghìn đồng) của bị cáo Hoàng Văn T.

3.3. Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REALME màu xanh có số IMEI 1: 867366041469419, số IMEI 2: 867366041469401, máy cũ đã qua sử dụng; 01 (một) Căn cước công dân mang tên Hoàng Văn T và số tiền 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng).

3.4. Trả lại cho ông Hoàng Văn M, cư trú tại: Thôn N, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WAWE S, màu trắng, biển kiểm soát 12K9-9xxx, số máy: JC52E4039605, số khung: JC5210CY033231, xe cũ đã qua sử dụng.

(Các vật chứng trên được ghi chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 11 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn).

4. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. ơ

Cỡ chữ