vanban.org

Bản án 91/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Ngọc Th đƣợc ly hôn với chị Trƣơng Thị L (giấy chứng nhận kết hôn số 08, quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 09/02/2011).

Về con chung: Chị Trƣơng Thị L giao con chung tên Hoàng Trƣơng Nhƣ Q, sinh ngày 18/10/2011, Hoàng Ngọc Quỳnh Nh, sinh ngày 10/8/2017 cho anh Th trực tiếp nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Th về việc không yêu cầu chị L cấp dƣỡng nuôi con. Anh Hoàng Ngọc Th giao con chung tên Hoàng Ngọc Trà M… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Hoàng Ngọc Th yêu cầu được ly hôn với chị Trương Thị L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Ngọc Th đƣợc ly hôn với chị Trƣơng Thị L (giấy chứng nhận kết hôn số 08, quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 09/02/2011).
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 91/2022/HNGĐ-ST
Ngày 21-6-2022
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Tú Nhi;

2. Bà nguyễn Thị Kim Uyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu- Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 225/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2022 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 114/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2022, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Anh Hoàng Ngọc Th, sinh năm 1984; thƣờng trú: Thôn D, xã Q, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình; tạm trú: Số A, tổ B, khu phố T, phƣờng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Trƣơng Thị L, sinh năm 1992; thƣờng trú: Thôn D, xã Q, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình; tạm trú: Số A, tổ B, khu phố T, phƣờng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 3 năm 2022 và quá trình tố tụng nguyên đơn anh Hoàng Ngọc Th trình bày:

Anh và chị L tìm hiểu nhau đƣợc 03 ngày thì tự nguyện chung sống, hai bên có tổ chức đám cƣới và có đăng ký kết hôn vào ngày 09/02/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình theo giấy chứng nhận kết hôn số 08, quyển số 01/2011. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện.

Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau, vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhƣng không có kết quả. Vợ chồng anh đã có thời gian ly thân từ tháng 12 năm 2021 đến nay. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu đƣợc ly hôn với chị L.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Hoàng Trƣơng Nhƣ Q, sinh ngày 18/10/2011, Hoàng Ngọc Quỳnh Nh, sinh ngày 10/8/2017 và Hoàng Ngọc Trà M, sinh ngày 18/6/2019. Sau khi ly hôn anh Th yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng 02 con chung tên Hoàng Trƣơng Nhƣ Q, sinh ngày 18/10/2011, Hoàng Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 10/8/2017 và đồng ý giao con chung tên Hoàng Ngọc Trà M, sinh ngày 18/6/2019. Hai bên không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con cho nhau.

Về tài sản chung và nợ chung về tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 21/4/2022, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn chị Trương Thị L trình bày:

Thống nhất với phần trình bày của nguyên đơn về thời gian tìm hiểu, đăng ký kết hôn, cuộc sống chung vợ chồng và thời gian ly thân nhƣng không thống nhất về nguyên nhân mâu thuẫn nhƣ lời trình bày của anh Th, theo chị nguyên nhân mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là do anh Th có tình cảm với ngƣời phụ nữ khác nên muốn ly hôn với chị chứ mâu thuẫn vợ chồng thì không đến mức phải ly hôn. Chị xác định không còn tình cảm với anh Th nhƣng không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh Th do chị còn thƣơng các con.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Hoàng Trƣơng Nhƣ Q, sinh ngày 18/10/2011, Hoàng Ngọc Quỳnh Nh, sinh ngày 10/8/2017 và Hoàng Ngọc Trà M, sinh ngày 18/6/2019. Do chị không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu giải quyết về con chung. Trƣờng hợp Tòa án cho ly hôn thì chị yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng 03 con và không yêu cầu anh Th cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị yêu cầu anh Th giao cho chị toàn quyền quản lý, sử dụng nhà đất tại địa chỉ A đƣờng N, khu phố T, phƣờng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng nhƣng không yêu cầu giải quyết về tài sản chung.

- Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh Th và chị L do Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng tiến hành ngày 31/5/2022, Hội L hiệp phụ nữ phƣờng cung cấp thông tin nhƣ sau: Hội L hiệp phụ nữ phƣờng không nhận đƣợc đơn đề nghị hòa giải hôn nhân giữa anh Hoàng Ngọc Th và chị Trƣơng Thị L, đồng thời Hội cũng không tiếp nhận phản ánh từ cơ sở về mâu thuẫn giữa hai anh chị, do đó không biết rõ mâu thuẫn giữa anh Th, chị L và cũng không biết tình trạng chăm sóc con của anh chị.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã đƣợc thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự, tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Sự chấp hành pháp luật của đƣơng sự: Các đƣơng sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các quy định pháp luật L quan.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng anh Th, chị L chƣa đến mức trầm trọng nên yêu cầu ly hôn của anh Th là không có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Th.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Ngọc Th và chị Trƣơng Thị L là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 08, quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 09/02/2011, nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Tại bản tự khai và quá trình tố tụng nguyên đơn, bị đơn đều thống nhất về thời gian tìm hiểu, đăng ký kết hôn, quá trình chung sống và thời gian ly thân nhƣng không thống nhất về nguyên nhân mâu thuẫn. Nguyên đơn trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm về mọi vấn đề phát sinh trong cuộc sống nên thƣờng xuyên cãi nhau; bị đơn cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do nguyên đơn có tình cảm với ngƣời phụ nữ khác nên muốn ly hôn với bị đơn nhƣng không cung cấp đƣợc chứng cứ chứng minh việc nguyên đơn ngoại tình và nguyên đơn cũng không thừa nhận việc có tình cảm với ngƣời phụ nữ khác. Tại phiên tòa, anh Th trình bày ngoài bất đồng quan điểm giữa hai vợ chồng thì gia đình nội ngoại hai bên cũng có phát sinh mâu thuẫn không thể hòa giải đƣợc, cụ thể: bố chị L ở ngoài quê không biết vì lý do gì mà đánh chị gái của anh Th và khi biết anh Th với chị L ly hôn thì điện thoại đe dọa chém, giết anh Th nếu anh Th về quê. Ngoài ra, có những lần vợ chồng cãi nhau, chị L đăng tin lên mạng xã hội nói xấu anh Th làm ảnh hƣởng đến công việc kinh doanh của anh Th và chị L cũng thừa nhận có việc đăng tin lên mạng xã hội nhƣ lời anh Th trình bày.

Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Tuy nhiên, trong bản tự khai và tại phiên hòa giải ngày 24/5/2022 chị L cũng xác định không còn tình cảm với anh Th nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh Th nhƣng sau đó chị L lại không đồng ý ly hôn vì cho rằng thƣơng các con. Hơn nữa anh, chị đã có thời gian ly thân từ cuối năm 2021 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc nhau, không còn cùng nhau chăm sóc con chung nên mục đích của cuộc hôn nhân không đạt đƣợc, mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng không thể hàn gắn. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của anh Th là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 03 con chung. Tại phiên tòa chị L đồng ý giao 02 con chung tên Hoàng Trƣơng Nhƣ Q, sinh ngày 18/10/2011, Hoàng Ngọc Quỳnh Nh, sinh ngày 10/8/2017 cho anh Th trực tiếp nuôi dƣỡng và chị không phải cấp dƣỡng nuôi con, còn chị trực tiếp nuôi dƣỡng con chung tên Hoàng Ngọc Trà M, sinh ngày 18/6/2019 và không yêu cầu anh Th cấp dƣỡng nuôi con Hoàng Ngọc Trà My. Anh Th đồng ý nuôi dƣỡng 02 con chung tên Hoàng Trƣơng Nhƣ Q, sinh ngày 18/10/2011, Hoàng Ngọc Quỳnh Nh, sinh ngày 10/8/2017 và không yêu cầu chị L cấp dƣỡng nuôi con, anh cũng đồng ý giao con chung tên Hoàng Ngọc Trà M, sinh ngày 18/6/2019 cho chị L trực tiếp nuôi dƣỡng và không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung. Xét, anh Th, chị L đã thỏa thuận đƣợc việc trực tiếp nuôi dƣỡng và cấp dƣỡng nuôi con chung, đây là sự tự nguyện của các đƣơng sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Từ những phân tích trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An cho rằng mâu thuẫn vợ chồng chƣa đến mức trầm trọng và không chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Th là chƣa phản ánh đúng mâu thuẫn của đƣơng sự nên không có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Hoàng Ngọc Th phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 229, 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Ngọc Th đƣợc ly hôn với chị Trƣơng Thị L (giấy chứng nhận kết hôn số 08, quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 09/02/2011).

2. Về con chung: Chị Trƣơng Thị L giao con chung tên Hoàng Trƣơng Nhƣ Q, sinh ngày 18/10/2011, Hoàng Ngọc Quỳnh Nh, sinh ngày 10/8/2017 cho anh Th trực tiếp nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Th về việc không yêu cầu chị L cấp dƣỡng nuôi con.

Anh Hoàng Ngọc Th giao con chung tên Hoàng Ngọc Trà M, sinh ngày 18/6/2019 cho chị L trực tiếp nuôi dƣỡng. Anh Th không phải thực hiện cấp dƣỡng nuôi con cho chị L.

Sau khi ly hôn chị L, anh Th phải tạo điều kiện cho nhau trong việc chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đƣơng sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Th phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003677 ngày 07 tháng 4 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ