vanban.org

Bản án 91/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Võ Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Võ Thanh T 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2020 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Võ Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2021/HSST
Ngày: 06 - 5 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Thị Sơn Thủy

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Bùi Thị Cẩm Vân

2/ Ông Lê Ngọc Lâm

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Vũ Nhật Minh – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2021, tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2021/HSST ngày 25/3/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2021/QĐXXST-HS ngày 15/4/2021, đối với bị cáo:

Võ Thanh T; giới tính: nam; sinh năm: 1994 tại tỉnh Trà Vinh; nơi thường trú: ấp A , xã B , huyện C, tỉnh Trà Vinh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: phụ hồ; trình độ học vấn: 04/12. Con ông Võ Văn N (chết) và bà Nguyễn Thị V.

Tiền án,tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 06/7/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 8 ra quyết định số 279/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng.

Tạm giam: 23/10/2020. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: bà Võ Thị Đ; sinh năm: 1968; địa chỉ: 14/3 đường A, khu phố 1, phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 50 ngày 23/10/2020, tại trước số 123 A, Phường B, quận C, tổ tuần tra Công an Phường B , quận C phát hiện Võ Thanh T đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda Dream biển số 59K1 – 012.21 có biểu hiện nghi vấn nên tổ tuần tra yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ tuần tra phát hiện trong túi quần sau bên trái của T có 02 gói nylon chứa chất bột màu trắng. T khai nhận đây là ma túy nên lực lượng Công an đưa T về trụ sở Công an Phường A, quận B lập hồ sơ xử lý.

Tại cơ quan điều tra, Võ Thanh T khai nhận bắt đầu sử dụng ma túy “đá” từ năm 2013. Khoảng năm 2019, thông qua bạn nghiện (không rõ lai lịch) quen bên ngoài xã hội mà T biết đối tượng không rõ lai lịch bán ma túy tại khu vực đường A , Quận C và đã nhiền lần mua ma túy của đối tượng này để sử dụng cho bản thân. Mỗi lần có nhu cầu mua ma túy thì T sẽ tìm mua trực tiếp chứ không liên lạc với đối tượng này bằng điện thoại hay phương tiện gì khác. Khoảng 13 giờ ngày 23/10/2020, T có nhu cầu sử dụng ma túy heroine nên điều khiển xe gắn máy biển số 59K1 - 012.21 đến khu vực đường A , Quận C, gặp đối tượng bán ma túy hỏi mua 350.000 đồng ma túy Heroine. Đối tượng này kêu T đứng đợi rồi bỏ đi đâu không rõ, khoảng 05 phút sau quay lại, đưa T 02 gói nylon chứa chất bột màu trắng. T cất 02 gói ma túy này vào túi quần đang mặc rồi điều khiển xe gắn máy đến trước số 123 A, Phường B, quận C thì bị lực lượng Công an kiểm tra như đã nêu trên. T khai mục đích mua, cất giấu ma túy để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích khác.

Tại Kết luận định giám định số 1858/KLGĐ-H ngày 30 tháng 10 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh: Tinh thể không màu trong 02 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Mai Văn D (Điều tra viên), Nguyễn Hoàng H, Đậu Văn N (người chứng kiến), Võ Thanh T (người liên quan) và hình dấu Công an Phường B, quận C (Ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4057 (không phẩy bốn không năm bảy gam), loại Heroine.

* Vật chứng:

- 01 túi niêm phong bên ngoài có ghi số vụ 1858/2020 Bình Thạnh và các chữ ký của giám đinh viên Nguyễn Thanh Đ, cán bộ điều tra Ngô Sỹ Anh T. Bên trong là mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định gồm bột màu trắng có khối lượng 0,2800g.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số thuê bao xxxxxxxxxx.

- 01 xe moto nhãn hiệu Honda Dream gắn biển số 59K1 – 012.21; số khung: HA08E-0776481; số máy: RNDDCGUND81-002088.Tiến hành giám định được biết xe này có số khung, số máy nguyên thủy. Tuy nhiên, tra cứu số khung số máy không có dữ liệu đăng ký chủ sở hữu.

Xác minh được biển số 59K1-012.21 được cấp cho xe gắn máy hiệu Yamaha Nouvo do bà Võ Thị Đ đứng tên đăng ký. Hiện bà Đ không có mặt tại nơi cứ trú, ở đâu không rõ, chưa tiến hành làm việc được.

Võ Thanh T khai nguồn gốc xe gắn máy hiệu Honda Dream gắn biển số 59K1-012.21 là của một người tên là cô S (không rõ lai lịch) làm nghề bán cá, T làm thuê cho cô S trong thời gian từ khoảng năm 2018 đến năm 2019 thì cô S nghỉ bán cá và cho T xe gắn máy này để sử dụng. Việc cho xe chỉ nói miệng chứ không làm văn bản gì khác. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho đăng báo tìm chủ sở hữu đối với xe gắn máy này nhưng hiện nay chưa có ai đến tranh chấp.

Tại cáo trạng số 81/CT-VKSBT ngày 25 tháng 3 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố bị cáo Võ Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Kiểm sát viên đại diện cho Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh giữ nguyên quan điểm truy tố, sau khi luận tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Võ Thanh T mức án từ 02 năm tù đến 03 năm tù, miễn hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời nói sau cùng của bị cáo đã nhận được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về hòa nhập cộng đồng làm người công dân tốt cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại cơ quan điều tra cũng như qua thẩm tra xét hỏi tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Võ Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ, cho thấy:

Vào lúc 13 giờ 50 ngày 23/10/2020, tại trước số 123 A , Phường B, quận C, Công an phát hiện và bắt quả tang Võ Thanh T tàng trữ trái phép 02 gói nylon chứa chất bột màu trắng là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4057g, loại Heroine theo kết luận định giám định số 1858/KLGĐ-H ngày 30 tháng 10 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh. Mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân. Như vậy có đủ cơ sơ kết luận hành vi nêu trên của bị cáo cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự trị an tại địa phương. Hành vi này đã tiếp tay cho các tội phạm khác về ma túy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chính sách phòng chống tội phạm về ma túy, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất gây nghiện của nước ta hiện nay, bị cáo có nhân thân xấu nên xét cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Hội đồng xét xử xét tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 giảm cho bị cáo một phần hình phạt. Đối với đối tượng đã bán ma túy cho T là đối tượng chưa rõ lai lịch, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

* Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ký hiệu “Vụ 1858/2020 Bình Thạnh” bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thanh Đ và Cán bộ điều tra Ngô Sỹ Anh T, bên trong là mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 0,2800g.

* Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số thuê bao xxxxxxxxxx, không liên quan đến hành vi phạm tội.

Xét 01 xe moto nhãn hiệu Honda Dream gắn biển số 59K1 – 012.21; số khung: HA08E-0776481; số máy: RNDDCGUND81-002088.Tiến hành giám định được biết xe này có số khung, số máy nguyên thủy. Tuy nhiên, tra cứu số khung số máy không có dữ liệu đăng ký chủ sở hữu. Qua xác minh, biển số 59K1-012.21 được cấp cho xe gắn máy hiệu Yamaha Nouvo do bà Võ Thị Đ đứng tên đăng ký. Hiện bà Đ không có mặt tại nơi cứ trú, ở đâu không rõ, chưa tiến hành làm việc được. T khai nguồn gốc xe gắn máy hiệu Honda Dream gắn biển số 59K1-012.21 là của một người tên là cô S (không rõ lai lịch) làm nghề bán cá, T làm thuê cho cô S trong thời gian từ khoảng năm 2018 đến năm 2019 thì cô S nghỉ bán cá và cho T xe gắn máy này để sử dụng. Việc cho xe chỉ nói miệng chứ không làm văn bản gì khác. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho đăng báo tìm chủ sở hữu đối với xe gắn máy này nhưng hiện nay chưa có ai đến tranh chấp.

Hội đồng xét xử thấy cần đăng báo trong thời hạn 6 tháng để tìm chủ sở hữu hợp pháp. Nếu quá thời hạn trên mà không có chủ sở hữu hợp pháp đến nhận thì tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố bị cáo Võ Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Võ Thanh T 01 năm 06 tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2020

2/ Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 gói niêm phong ký hiệu “Vụ 1858/2020 BThạnh” bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thanh Đ và Cán bộ điều tra Ngô Sỹ Anh T, bên trong là mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 0,2800g.

- 01 biển số xe 59K1 – 012.21.

Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, gắn sim số xxxxxxxxxx.

Giao Cơ quan thi hành án có thẩm quyền đăng báo trong thời hạn 06 tháng nếu quá thời hạn này mà không có chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 1 xe máy; số khung: HA08E-0776481; số máy: RNDDCGUND81-002088.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/3/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh).

3/ Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được niêm yết hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ