- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh T phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật TTHS; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Quyết định số 326/2017/QĐ-UBND Ban hành Quy định quản lý chi…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2021/HS - ST Ngày: 29 - 6- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT – TỈNH ĐỒNG NAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quang Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:ông Nguyễn Khánh Thành
Ông Nguyễn Thành Lam
- Thư ký phiên tòa: bà Quách Thị Khuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 112/2021/TLST - HS ngày 04 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2021/QĐXXST – HS ngày 10 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh T; Sinh năm: 1980 tại tỉnh Cần Thơ. Nơi cư trú: tổ 4, khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đ ng Nai. Nghề nghiệp: Làm thuê;Trình độ văn hoá: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn S - Sinh năm: 1953 và con bà Thái Thị Tr - Sinh năm: 1957; Bị cáo có vợ Nguyễn Thị N (chết) và có 01 người con (chết). Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 4 anh em
Tiền án: Ngày 05/8/2020, bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 10 (mười) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” và chưa được xóa án tích
Tiền sự: không
Nhân thân: xấu
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/3/2021 đến nay.
(bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Võ Văn L; sinh năm: 1963
Địa chỉ: tổ 4, khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đ ng Nai.
- Anh Lư Minh H; sinh năm: 1982.
Địa chỉ: số 373, tổ 4, khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đ ng Nai.
- Anh Lư Quốc P; sinh năm: 1980.
Địa chỉ: số 373, tổ 4, khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đ ng Nai.
- Anh Nguyễn Đình C; sinh năm: 1970.
Địa chỉ: tổ 3, khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đ ng Nai.
Anh Lê Quang H; sinh năm: 1973.
Địa chỉ: số 93/30/15 hẻm 100 Bình T, phường T, Quận Q, tp H Chí Minh. (Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22h00 ngày 18/12/2020, Công an thị trấn D nhận được tin báo của người dân, tại rạp đám cưới nhà ông Nguyễn T (tên thường gọi: Hàng), thuộc Tổ 4, khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đ ng Nai, có một số đối tượng tụ tập đánh bạc trái phép bằng hình thức chơi “bài cào” (3 lá) thắng thua bằng tiền. Công an thị trấn D triển khai lực lượng bắt giữ các đối tượng, nhưng khi đến nơi, số đối tượng đánh bạc đ b chạy kh i hiện trường, để lại trên chiếu bạc 3.800.000đ ng (ba triệu tám trăm ngàn đ ng) và một bộ bài tây 52 lá.
Kết quả điều tra xác định các đối tượng tham gia đánh bạc g m: Nguyễn Minh T (đối tượng có một tiền án về tội đánh bạc chưa được xóa án tích), Võ Văn Lg (sinh năm: 1963, Lư Minh Hi (tên thường gọi: N, sinh năm: 1982, Lư Quốc P (tên thường gọi: Ng, sinh năm: 1980, Nguyễn Đình C (sinh ăm: 1970 và Lê Quang H (Tên thường gọi: L, sinh năm: 1973.
Các đối tượng sử dụng 01 bàn tròn bằng nhôm sắt (không có khăn bàn) tại rạp đám cưới và 01 bộ bài tây 52 lá có s ng trên bàn để đánh bạc.Cách thức đánh bạc: Nguyễn Minh T làm cái, dùng bộ bài 52 lá chia cho các con bạc 03 lá bài một người, số điểm dựa trên 03 lá bài (điểm lớn thắng điểm nh ) theo thứ tự lớn xuống nh . M i ván bài đặt tiền từ 10.000đ ng đến 100.000 đ ng, ván cao nhất đặt lên 600.000đ ng. Cách tính điểm lớn xuống điểm nh như sau: 3 con tây ( , Q, K) là lớn nhất, tiếp đến là 3 lá bài cộng lại tính từ 9 điểm xuống 0 điểm (các lá A, Hai, Ba, Bốn, Năm, Sáu, Bảy, Tám, Chín có điểm tương ứng là: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 điểm, các lá Mười, , Q, K có điểm tương ứng là 0 điểm; khi cộng 3 lá lại bằng 10, 20 điểm thì tính là 0 điểm; trên 10, 20 điểm thì trừ cho 10, 20 còn số dư là điểm tương ứng), các đối tượng không tính 3 cào (3 con giống nhau). Các đối tượng đánh bạc từ khoảng 21h30 đến khoảng 22h00 ngày 18/12/2020 phát hiện Công an thị trấn D đến truy bắt, các đối tượng b chạy kh i hiện trường. Tiền của Nguyễn Minh T mang theo và thắng thua khi đánh bạc đều để trên chiếu bạc lúc b chạy. Công an thị trấn D lập biên bản tạm giữ số tiền trên chiếu bạc là 3.800.000 (ba triệu tám trăm ngàn đ ng). Tiền thắng thua cụ thể như sau:
- Nguyễn Minh T sử dụng số tiền 400.000 đ ng tham gia đánh bạc trái phép, thắng được 3.200.000đ ng (thêm 200.000đ ng của Lư Minh Hải đặt ván cuối) là phù hợp với số tiền thu được tại chiếu bạc là 3.800.000đ ng.
- Lư Minh H) sử dụng số tiền 1.500.000đ ng tham gia đánh bạc trái phép, thua 1.300.000đ, còn lại 200.000đ ng.
- Nguyễn Đình Csử dụng số tiền 700.000đ tham gia đánh bạc trái phép, thua hết 700.000 đ ng.
- Lư Quốc P sử dụng số tiền 600.000đ ng tham gia đánh bạc trái phép, thua hết 600.000đ ng thì nghỉ trước.
- Võ Văn L sử dụng số tiền 300.000đ ng tham gia đánh bạc trái phép, thua hết 300.000đ ng.
- Lê Quang H sử dụng số tiền 300.000đ ng tham gia đánh bạc trái phép, thua hết 300.000đ ng.
Quá trình điều tra các bị can Nguyễn Minh T khai nhận hành vi phạm tội như đ nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 61/CT.VKS – TN ngày 27/5/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Minh T về tội “đánh bạc” theo bản Cáo trạng số 61/CT.VKS-TN ngày 27/5/2021. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T mức án từ 10 tháng đến 12 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2021.
Đề nghị HĐXX tổng hợp thời gian cải tạo không giam giữ của bị cáo chưa thi hành của bản án số 54/2020/HS-ST ngày 05/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất chuyển sang hình phạt tù giam trong vụ án này.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo đ gây gây ra. Mong Hội đ ng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đ được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong h sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong h sơ vụ án đ được thẩm tra, xét h i, tranh luận tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận thấy như sau:
1 Về tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố; Cơ quan điều tra Công an huyện Thống Nhất, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.
2 Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Minh T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng đ thu h i được, tài liệu, chứng cứ có trong h sơ, nên có đủ căn cứ kết luận:
Trong khoảng thời gian từ 21 giờ 30 đến 22 giờ 00 ngày 18/12/2020, tại khu phố Trần Hưng Đạo, thị trấn Dầu Giây, huyện Thống Nhất, tỉnh Đ ng Nai, Nguyễn Minh T (là đối tượng có 01 tiền án về tội đánh bạc chưa được xóa án tích) và các đối tượng Lư Minh H, Lư Quốc P, Nguyễn Đình C, Võ Văn L, Lê Quang H có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức “Đánh bài cào 3 lá” được thua bằng tiền. Tổng số tiền đưa vào đánh bạc là 3.800.000 đ ng (ba triệu tám trăm nghìn đ ng). Đến 22 giờ15 phút cùng ngày công an thị trấn D phát hiện bắt, thu giữ tang vật như đ nêu trên
Như vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Minh T đ phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự là có căn cứ. Cáo trạng số 61/CT.VKS-TN ngày 27/5/2021 của VKSND huyện Thống Nhất truy tố các bị cáo T về tội danh và điều luật đ viện dẫn như trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
3 Xét về tính chất, mức độ, vai trò của từng bị cáo thì thấy: đây là vụ án có tính chất nguy hiểm cho x hội bởi hành vi phạm tội của các bị cáo đ xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng gây dư luận sấu trong nhân dân, hành vi đánh bạc của bị cáo có thể coi là nguyên nhân dẫn đến sự phát sinh nhiều loại tội phạm khác bởi vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi của từng bị cáo nhằm giáo dục dăn đe phòng ngừa cho x hội.
4 Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải xét cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét cần thiết phải cách ly các bị cáo ra kh i x hội một thời giam nhằm cải tạo giáo dục bị cáo sớm trở thành công dân có ích cho x hội phòng ngừa chung.
Bị cáo đ bị Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xử phạt 10 tháng cải tạo không giam giữ tại bản án số 54/2020/HS-ST ngày 05/8/2020, tính đến ngày bị cáo tạm giam, bị cáo đ thi hành được 07 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo chưa thi hành 02 tháng 18 ngày cải tạo không giam giữ (quy đổi thành 26 ngày tù) được tổng hợp trong bản án này theo quy định tại điểm a,b khoản 1 Điều 55 và Điều 56 BLHS.
6Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật TTHS năm 2015
- Tịch thu sung công quỹ số tiền: 3.800.000 đ ng thu giữ trên chiếu bạc.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá làm công cụ đánh bạc, toàn bộ vật chứng của vụ án cơ quan thi hành án dân sự huyện Thống Nhất đang quản lý.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T là lao động nghèo không có nghề nghiệp, xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
8 Về án phí: bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đ ng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
9 Đối với hành vi đánh bạc trái phép của các đối tượng cùng tham gia đánh bạc Lư Minh H, Lư Quốc P, Nguyễn Đình C, Võ Văn L và Lê Quang Hnhưng chưa đến mức để truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an huyện Thống Nhất ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép theo quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 26 nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ là có ăn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 10 (mười) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Tổng hợp hình phạt chưa thi hành của bản án số 54/2020/HS-ST ngày 05/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, bị cáo Nguyễn Minh T phải chấp hành hình phạt chung là 10 (mười) tháng 26 (hai mươi sáu) ngày tù, thời hạn tù của bị cáo được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 24/3/2021.
2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật TTHS năm 2015.
- Tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước Số tiền 3.800.000 (ba triệu tám trăm ngàn đồng) số tiền trên đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, theo biên lai thu tiền số 0002431 ngày 01/6/2021).
- Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bộ bài tây các bị cáo dùng để đánh bạc;
(Vật chứng đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/6/2021).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000đ (hai trăm) ngàn đ ng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: bị cáo T, anh Hải, anh Phong có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Long, anh Chính, anh Hùng có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - - TAND T. Đ ng Nai. - - VKSND H. T.Đ ng Nai; -VKSND H. Thống Nhất; - - Công an H. Thống Nhất; - - Chi cục THADS H Thống Nhất; - - Các bị cáo; - - Lưu h sơ. - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Quang Phúc |