- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Bùi Thị Thuý D - Phạm Thái P"
- Tòa quyết gì? Cho ly hôn giữa chị Bùi Thị Thúy D với anh Phạm Thái P
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91 /2021/HNGĐ - ST Ngày: 25 - 6 -2021 V/v "tranh chấp ly hôn, nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Diện
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Quách Tử Điệc
2. Ông Nguyễn Văn Trước
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Cẩm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ: Không tham gia
Trong ngày 25 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2021/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2021 về việc "tranh chấp ly hôn, nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Thúy D, sinh năm 1986
Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
- Bị đơn: Anh Phạm Thái P, sinh năm 1988
Địa chỉ: ấp C, xã D, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 02/3/2021 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Bùi Thị Thúy D trình bày: Chị và anh P trên cơ sở quen biết tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 13/02/2015. Sau khi cưới thì cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến khoảng năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm thường xuyên cải nhau, anh P không còn quan tâm cho gia đình. Nay Chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho Chị được ly hôn với anh P.
Về con chung: có 02 con chung tên Phạm Thái D, sinh ngày 10/9/2015 và Phạm Bùi Thái K, sinh ngày 01/4/2018. Khi ly hôn Chị đồng ý giao con chung là bé D cho anh P nuôi dưỡng, Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng bé K. Không yêu cầu bên còn lại cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Tại biên bản hòa giải ngày 06/4/2021 và trong quá trình xét xử anh P trình bày: Anh còn thương vợ con nên không đồng ý ly hôn với chị D.
Về con chung: Trường hợp tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh có ý kiến như sau: Anh thống nhất theo yêu cầu của chị D, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu D, giao cháu K cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng; không yêu cầu bên còn lại cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
* Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không cung cấp chứng cứ gì mới.
- Bị đơn vắng mặt không lý do
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay anh Phạm Thái P vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh P.
Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh P tiến đến hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn, phù hợp quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Chị D và anh P đều thừa nhận giữa anh chị có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc; giúp đở nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc gia đình”. Chị và anh P không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau cùng chia sẽ công việc gia đình và Tại Khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân gia đình quy định: “1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”. Tại phiên tòa Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh P. Anh P vắng mặt và có ý kiến không đồng ý ly hôn với chị D nhưng tình trạng hôn nhân của Anh, Chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D là có cơ sở.
Về con chung: có 02 con chung tên Phạm Thái D, sinh ngày 10/9/2015 và Phạm Bùi Thái K, sinh ngày 01/4/2018. Khi ly hôn Chị đồng ý giao con chung là bé D cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng, Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng bé K. Anh P thống nhất theo yêu cầu của chị D. Xét sự thỏa thuận trên là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luạt nên được chấp nhận. Hội đồng xét xử giao cháu Phạm Thái D cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Phạm Bùi Thái K cho chị D trược tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh P, chị D đều không yêu cầu bên còn lại cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp người không trực tiếp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Ngược lại người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về tài sản chung: không đặt ra giải quyết;
Về nợ chung: không đặt ra giải quyết
Về án phí: chị Bùi Thị Thúy D phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật, có trừ đi tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ các Điều 53, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Cho ly hôn giữa chị Bùi Thị Thúy D với anh Phạm Thái P
2. Về con chung: Giao cháu Phạm Thái D, sinh ngày 10/9/2015 cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Phạm Bùi Thái K, sinh ngày 01/4/2018 cho chị D trược tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh P, chị D đều không yêu cầu bên còn lại cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp người không trực tiếp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Ngược lại người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
3. Về tài sản chung: không đặt ra giải quyết; Về nợ chung: không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Buộc chị Bùi Thị Thúy D nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), tiền án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0006491 ngày 02/3/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKS cùng cấp; - Chi cục THADS HLH; - Các đương sự; - Cơ quan thực hiện ĐKKH - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Diện |