- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp HĐ tín dụng"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2021/DS-ST Ngày: 05/5/2021 V/v Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trịnh Thị Phương Châm;
2. Ông Nguyễn Đình Phúc.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Phan Duy Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Mai Đức Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 778/2020/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1119/2021/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1832/2021/QĐST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng N
Trụ sở chính: Số K, đường L, Phường M, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lã M sinh năm 1970 (theo Giấy ủy quyền số 1387/2020/UQ – TTT ngày 27/11/2020) – Đại diện theo ủy quyền.
Địa chỉ: Số I, Khu phố Q, phường X, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Phạm Anh T, sinh năm 1958.
Địa chỉ: Số U, đường I, phường H, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Lã M vắng mặt do có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Phạm Anh T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/11/2020 của nguyên đơn Ngân hàng V và quá trình giải quyết vụ án ông Lã Mngười đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 01/8/2011, ông Phạm Anh T ký với Ngân hàng V (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ vào thu nhập của ông T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 80.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, loại thẻ tín dụng quốc tế Visa, số thẻ 472075 – 2668 (sau đây gọi tắt Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 14/8/2014, bao gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và xác nhận của Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông T, Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 142.734.849 đồng, phí trễ hạn là 6.449.649 đồng, lãi 314.623.266 đồng, phí vượt hạn mức 1.094.440 đồng, phí 2.567.000 đồng. Ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 99.270.000 đồng (thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông T không có thiện chí trả nợ. Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 26/4/2013 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ đến ngày 26/4/2013 thành nợ gốc là 92.940.852 đồng và áp dụng lãi suất nợ quá hạn tính trên nợ gốc (bằng 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại). Kể từ ngày 26/4/2013, ông T chỉ phải chịu khoản tiền lãi quá hạn mà không bị tính thêm các loại phí nào khác. Đến ngày 25/11/2014 ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 2.000.000 đồng và ngày 25/12/2014 ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 3.000.000 đồng.
Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Phạm Anh T thanh toán số tiền của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng còn lại tính đến ngày 05/5/2021 là 368.199.204 đồng (bao gồm nợ gốc là 87.940.852 đồng và nợ lãi là 280.258.352 đồng). Và ông T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 06 tháng 5 năm 2021 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Thanh toán ngay khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Ngân hàng chỉ yêu cầu một mình ông T có trách nhiệm thanh toán tiền sử dụng thẻ còn nợ, ngoài ra không yêu cầu ai cùng có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phạm Anh T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt nên Tòa án không thu thập được ý kiến và tài liệu chứng cứ của ông T đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát… được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và không có kiến nghị gì về tố tụng.
Về nội dung: Căn cứ hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng của các bên và Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Phạm Anh T thanh toán số tiền của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng còn lại tính đến ngày 05/5/2021 là 368.199.204 đồng (bao gồm nợ gốc là 87.940.852 đồng và nợ lãi là 280.258.352 đồng) và lãi phát sinh sau ngày 06/5/2021 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về pháp luật tố tụng:
1.1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Nguyên đơn Ngân hàng V và bị đơn ông Phạm Anh T giao kết hợp đồng tín dụng ngày 01/8/2011. Trong quá trình thực hiện hợp đồng do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ còn thiếu theo thỏa thuận của các bên. Căn cứ kết quả xác minh ngày 04/3/2021 của Công an phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị đơn ông T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Số U, đường I, phường H, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư trú tại địa phương từ tháng 01 năm 2018 đến nay. Do đó, quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp về hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
1.2. Về việc vắng mặt đương sự:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
. Về pháp luật nội dung:
2.1. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc:
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ của Ngân hàng, có chữ ký xác nhận của ông Phạm Anh T và đại diện Ngân hàng có cơ sở xác định ngày 01/8/2011 Ngân hàng V đã cấp thẻ tín dụng cho ông T với hạn mức sử dụng là 80.000.000 đồng, mục đích để tiêu dùng cá nhân. Việc giao kết hợp đồng tín dụng ngày 01/8/2011 giữa Ngân hàng và ông T là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên phát sinh hiệu lực.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, căn cứ Bảng tóm tắt sao kê các giao dịch đã thực hiện qua thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch tính đến ngày 05/5/2021 với tổng số tiền là 142.734.849 đồng, phí trễ hạn là 6.449.649 đồng, lãi 314.623.266 đồng, phí vượt hạn mức 1.094.440 đồng, phí 2.567.000 đồng. Ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 99.270.000 đồng. Thứ tự thanh toán được quy định tại Điều 20 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng theo lần lượt: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước, giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước, giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước, các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ, giao dịch rút tiền mặt trong kỳ, giao dịch mua hàng hóa trong kỳ. Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 26/4/2013, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông T và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 92.940.852 đồng sang nợ quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Sau đó, ngày 25/11/2014 ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 2.000.000 đồng và ngày 25/12/2014 ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 3.000.000 đồng nên số tiền nợ gốc ông T còn thiếu là 87.940.852 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để bị đơn có văn bản trình bày ý kiến và cung cấp các tài liệu chứng cứ chứng minh cho việc đã thanh toán một phần hoặc thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng, tuy nhiên dựa theo bảng sao kê lịch sử thanh toán do Ngân hàng cung cấp, không có chứng cứ nào cho thấy ông T đã thanh toán số tiền nợ còn lại cho Ngân hàng. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Phạm Anh T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc còn lại là 87.940.852 đồng.
2.2. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nợ lãi:
Căn cứ Thông báo số 113/TB-TTT ngày 04/7/2011 của Ngân hàng V về việc thay đổi lãi suất và phí phát hành nhanh của thẻ tín dụng quốc tế S thì tại thời điểm các bên ký hợp đồng mức lãi suất được thỏa thuận đối với tất cả thẻ tín dụng quốc tế S phát hành cho khách hàng là 2.15%/tháng. Và tại Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng quy định lãi suất quá hạn là 150% lãi suất được áp dụng tại thời điểm hiện tại, tương đương 3.225%/tháng (2.15% x 150%). Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 26/4/2013, Ngân hàng chuyển số nợ gốc chưa thanh toán là 92.940.852 đồng sang nợ quá hạn, đến ngày 25/11/2014 số nợ gốc giảm xuống còn 90.940.852 đồng và đến ngày 25/12/2014 số nợ gốc giảm xuống còn 87.940.852 đồng theo mức lãi suất 3.225%/tháng được tính trên số nợ gốc tương ứng với thời gian vi phạm nghĩa vụ tính đến ngày 05/5/2021 là 280.258.352 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự: Trong vụ án này, Ngân hàng xác định chỉ yêu cầu ông T có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không yêu cầu ai cùng với ông T thực hiện nghĩa vụ dân sự nêu trên. Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện ông T đã sử dụng số tiền vay để phục vụ nhu cầu cá nhân nên không buộc ai phải cùng có trách nhiệm liên đới đối với khoản nợ của ông T.
Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Phạm Anh T thanh toán số tiền của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng tính đến 05 tháng 5 năm 2021 là 368.199.204 đồng (bao gồm nợ gốc là 87.940.852 đồng và nợ lãi là 280.258.352 đồng) và ông T có trách nhiệm tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã giao kết kể từ ngày 06 tháng 5 năm 2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Bị đơn ông Phạm Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 18.409.960 đồng. Nguyên đơn Ngân hàng V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
. Quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Điều 290 Bộ luật Dân sự năm 2005;
Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng V.
Buộc bị đơn ông Phạm Anh T phải thanh toán cho Ngân hàng V tổng số tiền còn nợ phát sinh theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 01/8/2011 với tổng số tiền tính đến ngày 05/5/2021 là 368.199.204 (ba trăm sáu mươi tám triệu một trăm chín mươi chín nghìn hai trăm lẻ bốn) đồng, trong đó nợ gốc là 87.940.852 đồng và nợ lãi là 280.258.352 đồng. Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 06/5/2021 cho đến khi thi hành án xong, ông Phạm Anh T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Ông Phạm Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 18.409.960 (mười tám triệu bốn trăm lẻ chín nghìn chín trăm sáu mươi) đồng.
Ngân hàng V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.545.592 (tám triệu năm trăm bốn mươi lăm nghìn năm trăm chín mươi hai) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0030222 ngày 17/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền kháng cáo:
Ngân hàng V và ông Phạm Anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân Quận 1; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1; - Các đương sự; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Tâm THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |