vanban.org

Bản án 91/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 25/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Ngọc T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Đinh Ngọc T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt 36 (ba mươi sáu) tháng tù của Bản án số 19/2017/HSST ngày 18/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Ngoc T tàng trư trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đinh Ngọc T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2020/HSST
Ngày 25/6/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

T phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

Các Hội T nhân dân:

Ông Lê Văn Tú.

Bà Đồng Thị Thanh Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Lan Hương, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình - tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình - tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thùy, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ T công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2020/HSST ngày 17 tháng 04 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2020/QĐXXST-HS ngày 03/6/2020, Thông báo thay đổi lịch xét xử số 01/TBXX ngày 15/6/2020 đối với bị cáo:

Đinh Ngọc T - Sinh năm 1985 (Tên gọi khác: không); Nơi ở và nơi ĐKNKTT: thôn P, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 02/12. Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Đinh Ngọc Đ và bà Trịnh Thị N; Vợ: Nguyễn Thị Thanh T (đã ly hôn năm 2016); Con: 01 con sinh năm 2012.

Tiền án: Bản án số 19/2017/HSST ngày 18/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Môi giới mãi dâm”.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/12/2019 đến ngày 06/01/2020 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đinh Ngọc Đ, sinh năm 1981; địa chỉ: phố P, phường N, thành phố Ninh Bình. Có mặt.

Người làm chứng: - Anh Phạm Cao T

- Anh Đặng Văn D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Ngọc T là đối tượng nghiện ma túy, khoảng 09 giờ ngày 31/12/2019 T đi xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ, đen biển kiểm soát 35N5 - 0050 từ nhà ở thôn P, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình sang khu vực xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định với mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, T gặp và hỏi một người đi xe ôm không quen biết chỗ bán ma túy đá, người xe ôm chỉ cho T một ngôi nhà ở gần đó và nói mua bao nhiêu thì đưa tiền qua lỗ cửa và nói với người trong nhà mua “Nước ma túy đá”, T đi đến lấy 270.000 đồng cầm ở tay phải đưa qua lỗ cửa của ngôi nhà và nói với người trong nhà “Lấy nước”, trong nhà có người cầm tiền và đưa cho T 01 túi ni lon màu trắng kích thước 1,5 x 1,5cm bên trong có chất tinh thể màu trắng. Mua được ma túy, T cầm ở tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi Đinh Ngọc T về đến khu vực đường Lương Văn Thăng, phố 11 phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình thì bị Tổ công tác Công an phường Đông Thành yêu cầu dừng xe kiểm tra vì xe không có gương chiếu hậu và T không đội mũ bảo hiểm, thấy vậy T đã thả túi ma túy đang cầm ở tay trái xuống đường nhưng đã bị Tổ công tác phát hiện yêu cầu T nhặt lên giao nộp, T chấp hành và khai nhận đó là túi ma túy vừa mua được để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã thu giữ niêm phong túi ma túy trên theo quy định và đưa Đinh Ngọc T cùng tang vật về trụ sở Công an phường Đông Thành lập biên bản phạm tội quả tang. Ngoài ra còn thu giữ của Đinh Ngọc T 01 mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ, đen biển kiểm soát 35N5 - 0050.

Tiến hành cân xác định trọng lượng chất tinh thể màu trắng thu giữ của Đinh Ngọc T có trọng lượng 0,3 gam ký hiệu M1 gửi đi giám định xác định loại ma túy, khối lượng ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 42/KLGĐ-PC54-MT ngày 02/01/2020 của Phòng kĩ thuật hình sự công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2986 gam là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Hoàn trả mẫu vật giám định có khối lượng 0,1657 gam Methamphetamine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong

Quá trình điều tra, Đinh Ngọc T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, đen biển kiểm soát 35N5

- 0050 thu giữ của Đinh Ngọc T. Quá trình điều tra xác định là của anh Đinh Ngọc Đ sinh năm 1981 trú tại phố Phương Đình, phường Ninh Sơn, thành phố Ninh Bình là anh trai của Đinh Ngọc T cho mượn, anh Đ không biết T dùng làm phương tiện đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại chiếc xe mô tô nêu trên cho anh Đinh Ngọc Đ.

Đối với 0,1657 gam Methamphetamine cùng vỏ gói ban đầu được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình quản lý giải quyết cùng vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 13/04/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Đinh Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Hội đồng xét xử tuyên bố: Đinh Ngọc T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Ngọc T từ 18 đến 24 tháng tù. Áp dụng khoản 5 Điều 65, Điều 56 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Đinh Ngọc T phải chấp hành hình phạt 36 tháng tù của Bản án số 19/2017/HSST ngày 18/4/2017; tổng hợp hình phạt tù hình phạt 36 tháng tù với hình phạt của bản án lần này, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là từ 54 đến 60 tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 31/12/2019, được trừ thời gian tạm giữ tại Bản án số 19/2017/HSST ngày 18/4/2017.Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy Methamphetamine thu giữ của Đinh Ngọc T được hoàn lại sau khi giám định cùng vỏ bao giấy gói ban đầu; Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ T là 200.000 đồng.

Bị cáo T không tranh luận gì và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đúng quy định của pháp luật.

. Về tội danh và hình phạt: Hồi 9 giờ 30 phút ngày 31/12/2019, tại khu vực đường Lương Văn Thăng, phố 11, phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình, Đinh Ngọc T đã có hành vi cất giữ trái phép 0,2986 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình phát hiện bắt quả tang.

Tại phiên tòa, bị cáo cũng đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong và mở niêm phong vật chứng; kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự, hành vi của bị cáo Đinh Ngọc T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo là người nghiện nhận thức tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện, bị cáo đã có 01 tiền án cụ thể tại Bản án số 19/2017/HSST ngày 18/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Môi giới mãi dâm” . Bị cáo chưa chấp hành xong. Do vậy lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm” là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do vậy cần xử phạt bị cáo hình phạt tù nghiêm minh, cách ly với xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo thành công dân có ích cho xã hội và cùng nhằm để giáo dục pháp luật và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt xét thấy, bị cáo đã đầu thú, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nên cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Bị cáo phạm tội trong thời gian thách của án treo nên căn cứ khoản 5 Điều 65, Điều 56 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 36 tháng tù của Bản án số 19/2017/HSST ngày 18/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định đồng thời tổng hợp với hình phạt tù của bản án lần này buộc bị cáo Đinh Ngọc T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 31/12/2019, được trừ thời gian tạm giữ tại Bản án số 19/2017/HSST từ ngày 24/12/2016 đến ngày 08/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

Bị cáo T tàng trữ ma tuý để sử dụng, không nhằm mục đích vụ lợi. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

.Về nguồn gốc gói ma túy: Bị cáo T khai mua ma túy của một người đàn ông không quen biết tại địa phận xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Bị cáo không biết rõ họ tên địa chỉ cụ thể nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình không có cơ sở điều tra xác minh làm rõ.

.Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy Methamphetamine thu giữ của Đinh Ngọc T được cơ quan giám định hoàn lại cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu là vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, đen, biển kiểm soát 35N5 - 0050 là tài sản của anh Đinh Ngọc Đ là anh trai của bị cáo. Bị cáo T đã tự ý sử dụng dùng để đi mua ma túy nhưng anh Đ không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Đ là phù hợp pháp luật. Anh Đ đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.

.Bị cáo Đinh Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ T theo quy định của pháp luật.

. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời gian luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 5 Điều 65, Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Ngọc T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Đinh Ngọc T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.

Buộc bị cáo chấp hành hình phạt 36 (ba mươi sáu) tháng tù của Bản án số 19/2017/HSST ngày 18/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đinh Ngọc T phải chấp hành là 60 (sáu mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 31/12/2019 được trừ thời gian tạm giữ tại Bản án số 19/2017/HSST ngày 18/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định (từ ngày 24/12/2016 đến ngày 08/3/2017).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, điểm c khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy Methamphetamine thu giữ của Đinh Ngọc T được cơ quan giám định hoàn lại cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu.

(Các vật chứng số lượng, đặc điểm theo như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 04 năm 2020 giữa Công an Thành phố Ninh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo Đinh Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ T.

Án xử công khai sơ T, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ