vanban.org

Bản án 91/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 19/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân H 13 (mười ba) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 26/12/2019 đến ngày 31/12/2019. Vật chứng vụ án: Tịch tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có 01 cóng thủy tinh chứa 0,318 gam ma túy Methamphetamine đã qua giám định có … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
----------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91 /2020/HSST
Ngày: 19/6/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Minh Huệ

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Kim Dung

2. Bà Uông Thị Hoa

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Cán bộ Toà án nhân dân quận Ba Đình, TP Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên

Ngày 19/6/2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hµ Néi xÐt xö c«ng khai, s¬ thÈm vô ¸n h×nh sù thô lý sè 83/HSST 11/5/2020 ®èi víi bị cáo :

Lê Xuân H; sinh năm 1975; HKTT và nơi ở: 29G N, phường C, quận H K, H ; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá : 12/12; Con ông : Lê Xuân Ng (chết) và bà : Nguyễn Thị K; Vợ : Bùi T H cps 2 con; Tiền án, tiền sự : Ngày 15/7/1999 Tòa án nhân dân Quận Hoàn Kiếm xử phạt 24 tháng tù giam tội cố ý gây thương tích ; Ngày 11/8/1999 Tòa án nhân dân Quận Đống Đa xử phạt 18 tháng tù giam tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà. Tổng hợp hình phật bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 bản án là 42 tháng tù ; Ngày 11/11/2009 Tòa án nhân dân Quận Thanh Xuân xử 24 tháng tù tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; Tạm giữ, tạm giam: 26/12/2019 ; Tạm tha : 31/12/2019; Bị cáo Tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG

Bị cáo Lê Xuân H bị Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 19h ngày 26/12/2019, Lê Xuân H điều khiển xe máy Honda Dream BKS 29L1 - 76705 đến cửa khẩu An Dương tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, H đã mua 300.000 đồng tiền ma túy của một người phụ nữ không quen biết. Sau khi đưa tiền, người phụ nữ đó đưa cho H 01 cóng thủy tinh bên trong chứa ma túy đá. H hút thử một hơi rồi cất cóng chứa ma túy đá vào trong tất, đi xe máy về phố Nguyễn K ngồi uống rượu với ông Nguyễn Hoàng Hh (Sinh năm: 1968; HKTT: Số 02 Nguyễn K, phường V, Đ, H). Đến 21h15 cùng ngày, H đèo ông Hh về phố An Dương uống nước. Khi cả hai đi đến trước cửa số nhà 59 P, phường T, B, H thì bị tổ công tác C3D5 – PK02E Công an thành phố Hà Nội kiểm tra, phát hiện và thu giữ cóng thủy tinh chứa ma túy đá Hiền cất trong tất. Ông Nguyễn Hoàng Hh không biết H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của H 01 ví da màu đen bên trong có 700.000 đồng, 01 thẻ căn cước công dân mang tên Lê Xuân H; 01 điện thoại Iphone X màu trắng có số sim 0983526703; 01 điện thoại Nokia 8800 màu vàng có số sim 0975842313.

Theo bản Kết luận giám định số 68/KLGĐ-PC09 ngày 03/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 cóng thủy tinh là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,318 gam”.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Xuân H khai nhận hành vi phạm tội như trên. Lời khai của bị can phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Lê Xuân H, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được lai lịch, nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với tài sản thu giữ của Lê Xuân H bao gồm: 01 xe máy Honda Dream BKS 29L1 – 76705, 01 điện thoại Iphone X, 1 điện thoại Nokia 8800, 01 ví da bên trong có 01 thẻ căn cước công dân mang tên Lê Xuân H, quá trình điều tra xét thấy số tài sản trên không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trao trả:

- 01 xe máy Honda Dream BKS 29L1 – 76705 cho anh Cung Văn C (Sinh năm: 1962; HKTT: Số nhà 33 ngõ 30 tổ dân phố số 03 phường Tr, N, H) là chủ sở hữu hợp pháp.

- 01 điện thoại Iphone X cho anh Lê Ngọc Q (Sinh năm: 1985; HKTT: 131 L, phường V, Đ, H) là chủ sở hữu hợp pháp.

- 01 điện thoại Nokia 8800, 01 ví da bên trong có 01 thẻ căn cước công dân mang tên Lê Xuân H là chủ sở hữu hợp pháp.

Tại cáo trạng số 84/KSĐT ngày 24/4/2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố: Lê Xuân H về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình trong phần luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng số 84/KSĐT ngày 24/4/2020 và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Xuân H từ 13 tháng đến 18 tháng tù giam; Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 cóng thủy tinh, 0,318gam ma túy Methamphetamine bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Lê Xuân H. Trả lại bị cáo 700.000 đồng không liên quan đến vụ án; Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn phạt tiền đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng bị cáo Lê Xuân H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, các biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, biên bản niêm phong tang vật, phù hợp với bản kết luận giám định số 68/KLGĐ-PC09 ngày 03/01/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội và phù hợp với các biên bản, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.

Những chứng cứ trên đây đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 21h40 ngày 26/12/2019, tại trước cửa số nhà 59 P, phường T, B, H, Lê Xuân H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,318 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác C3D5 – PK02E Công an thành phố Hà Nội bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo Lê Xuân H đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Nhân thân bị cáo Hiền có 03 tiền án đã được xóa án tích. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Khi lượng hình phạt, xét bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Về hình phạt bổ sung: Các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án đã bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình gồm: Tịch tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có 0,318gam ma túy Methamphetamine đã qua giám định, đây là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tiêu hủy theo khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu xung công quỹ nhà nước 700.000 đồng là tiền riêng của bị cáo theo khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 và khoản 5 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Khoản 2 điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân H 13 (mười ba) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 26/12/2019 đến ngày 31/12/2019.

Vật chứng vụ án: Tịch tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có 01 cóng thủy tinh chứa 0,318 gam ma túy Methamphetamine đã qua giám định có chữ ký của giám định viên và đối tượng H. Hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình theo biên bản bàn giao vật chứng số 95 ngày 24/4/2020.

Tịch thu xung công quỹ nhà nước 700.000 (bảy trăm nghìn) đồng tài khoản số: 3949.106.1691 tại kho bạc nhà nước Quận Ba Đình lập ngày 24/4/2020.

Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ