vanban.org

Bản án 91/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 20/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Xuân Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Bùi Xuân Th 06 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là 17/11/2019. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Xuân Th phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Xuân Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 91/2020/HSST
Ngày: 20-5-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lê Quang Hòa

2. Ông: Lò Văn Thương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà – Thư ký viên, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Hứa Ngọc Thông – Kiểm sát viên.

Ngày 20/5/2020, tại phòng xét xử 1, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2020/HSST ngày 17/4/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/QĐXXST-HS ngày 07/5/2020 đối với bị cáo:

Họ tên: Bùi Xuân Th; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1968; tại: Điện Biên. Nơi ĐKHKTT: Tổ A, phường T, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn T (đã chết) và bà: Bùi Thị Ch (đã chết); bị cáo có vợ là: Cao Thị Thu H (Đã ly hôn) và 01 con sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không: Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào; ngày 24/9/2003 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 36 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy; ngày 28/5/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 27 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 17/11/2019. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Anh Quàng Văn H, sinh năm 1989. Địa chỉ: Đội A, xã Thanh Chăn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

2. Anh Ngô Xuân Ngh, sinh năm 1988. Địa chỉ: Đội A, xã Thanh Chăn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Những người tham gia tố tụng khác (Tổ công tác bắt giữ bị cáo Bùi Xuân Th):

1. Anh Phạm Văn Ch, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn T, xã Thanh Chăn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

2. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1979. Địa chỉ: Bản P, xã Thanh Yên, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

3. Anh Tòng Văn Q, sinh năm 1978. Địa chỉ: Đội A, xã Thanh Chăn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

4. Anh Mai Khoa M, sinh năm 1992. Địa chỉ: Đội A, xã Pom Lót, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

5. Anh Nguyễn Đức C, sinh năm 1989. Địa chỉ: Tổ A, phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

6. Anh Lò Văn Kh, sinh năm 1989. Địa chỉ: Đội A, xã Thanh Chăn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

(Các anh H, Ng, Ch, H, Q có mặt, vắng anh M, anh Kh có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 17/11/2019, Bùi Xuân Th điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27B1 - 589.19 từ nhà đến khu vực đội 6, xã Thanh Yên, huyện Điện Biên, mục đích tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến nơi, Th vào nhà một người đàn ông có tên là Đôi, tại đây Th đã mua được của Đôi 02 gói ma túy với giá 1.350.000 đồng. Sau đó Th điều khiển xe mô tô đi về nhà. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi Th về đến khu vực đội 2, xã Thanh Chăn, huyện Điện Biên, thì bị tổ công tác Công an huyện Điện Biên phối hợp với Công an xã Thanh Chăn và Công an xã Thanh Yên, yêu cầu Th dừng xe mô tô để kiểm tra, khi phát hiện tổ công tác Th đã dùng tay phải lấy gói ma túy đang cầm ở tay trái ném sang bên phải theo chiều đi của bị cáo qua tường bao vào vườn nhà anh Tòng Văn Chung. Ngay sau đó, tổ công tác đã tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại túi quần bên phải Th đang mặc 01 gói nilon màu trắng bên trong có 04 gói nhỏ được gói bằng nilon màu trắng, mở bên trong 04 gói đều có các cục bột mầu trắng (nghi Heroine)

Tổ công tác tiếp tục kiểm tra theo hướng Th vung tay, phát hiện phía trong tường bao nhà Tòng Văn Chung 01 gói nilon trắng, mở bên trong có 03 gói gồm: 02 gói nilon màu trắng bên trong có các cục bột mầu trắng (nghi Heroine); 01 gói nilon màu trắng, mở bên trong có 06 viên nén mầu hồng (nghi ma túy tổng hợp). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc và thu giữ gói ma túy theo quy định. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của bị cáo 01 xe mô tô biển kiểm soát 27B1 - 589.19; 02 điện thoại di động và số tiền 122.000 đồng.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 18/11/2019 đã xác định chất bột mầu trắng thu giữ của Th khi bắt quả tang có khối lượng 0,43 gam. Chất bột màu trắng thu giữ trong vườn nhà Tòng Văn Chung có khối lượng 7,52 gam; 06 viên nén mầu hồng có khối lượng: 0,62 gam. Tại bản kết luận giám định số: 1060/GĐ - PC09 ngày 02/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu bột mầu trắng thu giữ của Bùi Xuân Th gửi giám định là ma túy loại Heroine. Mẫu chất bột mầu trắng và mẫu viên nén mầu hồng thu giữ tại đội 2, xã Thanh Chăn, huyện Điện Biên gửi giám định là ma túy loại Heroine và Methamphetamine.

Tại cơ quan Điều tra, Bùi Xuân Th không thừa nhận số ma túy Công an thu giữ tại vườn nhà Tòng Văn Chung là của bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo Bùi Xuân Th đã thay đổi hoàn toàn lời khai, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số: 90/CT-VKSĐB ngày 16/4/2020, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Bùi Xuân Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm n khoản 2 Điều 249/BLHS. Tại phiên tòa trong phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm n khoản 2 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS. Xử phạt bị cáo từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho mình, cũng như không có ý kiến gì tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát về bản luận tội.

Lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm án, ngoài ra bị cáo không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi của bị cáo: Ngày 17/11/2019, Bùi Xuân Th bị bắt quả tang khi đang cất giấu tại túi quần bên phải đang mặc 0,43 gam Heroine, ngoài ra còn thu giữ của bị cáo 7,52 gam Heroine và 0,62 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với biên bản sự việc của tổ công tác Công an huyện Điện Biên lập hồi 20 giờ 20 phút cùng ngày, phù hợp với Bản báo cáo về việc bắt giữ bị cáo của tổ công tác; biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo cất giấu 02 chất ma túy là Heroine và Methamphetamine đều được quy định trong cùng một điểm nên theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì khối lượng của các chất ma túy bị cáo cất giấu là 8,57 gam (0,43 gam Heroine + 7,52 gam Heroine + 0,62 gam Methamphetamine = 8,57 gam). Tổng khối lượng 02 chất ma túy thu giữ của bị cáo tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 249/BLHS nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm n khoản 2 Điều 249/BLHS. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.

. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn tiếp tay cho những kẻ chuyên buôn bán các chất ma túy tồn tại và phát triển, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Điện Biên nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là tội phạm rất nghiêm trọng, vì vậy hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền sự. Ngày 24/9/2003 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 36 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 07/7/2010 chấp hành xong bản án; ngày 28/5/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 27 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, ngày 13/02/2015 chấp hành xong bản án. Bị cáo đã được xóa án tích. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, đã bị Tòa án xét xử nhiều lần về tội phạm ma túy, khối lượng ma túy bị cáo cất giấu tương đối nhiều nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tiếp tục giáo dục bị cáo và để bị cáo có điều kiện cai nghiện ma túy.

. Về hành vi và các Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đã thực hiện đều hợp pháp Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, bản thân không có nghề nghiệp ổn định do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Bị cáo khai nhận số ma túy bị thu giữ là bị cáo mua Lò Văn Đôi ở đội 6, xã Thanh Yên, huyện Điện Biên. Cơ quan điều tra đã xác định được tại đội 6, xã Thanh Yên, huyện Điện Biên có Lò Văn Đôi, quá trình điều tra Đôi vắng mặt tại địa phương, nên chưa đủ cơ sở kết luận Đôi là người đã bán cho bị cáo ma túy. Cơ quan điều tra đã tách hành vi của Lò Văn Đôi để tiếp tục điều tra làm rõ sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Biện pháp tư pháp và việc xử lý vật chứng: 01 xe mô tô biển kiểm soát 27B1

- 589.19; 02 điện thoại di động và số tiền 122.000 đồng thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra, xét không liên quan đến vụ án. Cơ quan Điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét. 7,95 gam Heroine, 0,62 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần bị tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Xuân Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Xử phạt bị cáo Bùi Xuân Th 06 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là 17/11/2019.

3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Bùi Xuân Th phải chịu 200.000đ án phí HSST.

4. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

- Tịch thu tiêu hủy 7,95 gam Heroine đã trích 0,25 gam gửi giám định không hoàn lại mẫu vật sau giám định.

- Tịch thu tiêu hủy 0,62 gam Methamphetamine đã trích 0,1 gam gửi giám định không hoàn lại mẫu vật sau giám định.

(Toàn bộ vật chứng của vụ án đã được cơ quan Điều tra Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/5/2020).

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/5/2020).

Cỡ chữ