- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nghĩ; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2020/HS-ST Ngày: 22 - 9 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đồng Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Lê Thụy.
2. Bà Thái Thị Dung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Văn Hồng Lễ, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Điền, Kiểm sát viên.
Ngày 22/9/2020, tại Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 89/2020/TLST-HS ngày 24/8/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2020/QĐXXST-HS ngày 07/9/2020 đối với bị cáo:
Ngô Văn L (V), sinh năm 2001, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã C, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn T và bà Bùi Thị B; Có vợ: Nguyễn Hoài N và 01 con (sinh năm 2020); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Ông Ngô Văn T, sinh năm 1982. (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
2. Bà Nguyễn Hoài N, sinh năm 2001. (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
3. Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1986. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Hà Thủy 1, xã C, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Văn L là đối tượng nghiện ma túy, vào khoảng 01 giờ 20 phút ngày 19/4/2020, L điều khiển xe mô tô hiệu Air Black màu đen biển số 86B1-46089 đi đến khu vực Xóm Cốt thuộc thị trấn Phan Rí Cửa, Tuy Phong tìm gặp một người thanh niên không rõ nhân thân lai lịch hỏi mua 01 gói heroin với giá 300.000 đồng. Đến khoảng 01 giờ 40 phút cùng ngày L cất giấu gói heroin trong người, về đến thôn Hà Thủy 1, xã C, huyện Tuy Phong thì bị tổ tuần tra Công an xã C chặn lại kiểm tra, L ném xuống đất ngay dưới chân L 01 gói nylon màu trắng, kích thước khoảng 02cm x 04cm, một đầu nẹp khóa, bên trong có chứa chất rắn màu trắng, tổ tuần tra Công an xã C đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và L khai nhận gói nylon màu trắng trên là Heroin; Thu giữ của L 01 xe mô tô hiệu Air Black màu đen biển số 86B1-46089 và số tiền 21.000.000 đồng.
Tại bản Kết luận giám định số 359/KLGĐ-PC09 ngày 28/4/2020 kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1905 gam là Heroin.
Tại bản Cáo trạng số 93/CT-VKS-TP ngày 21/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Ngô Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- i n của i diện iện i m sát nhân dân huyện Tuy Phong: Giữ nguyên quan điểm truy tố tại cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Văn L từ 12 – 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy: Gói nylon và 0,1294 gam heroin còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 359 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung H1, hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận do đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng.
- i n của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu là đúng, không oan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Kết luận giám định số 359/KLGĐ-PC09 ngày 28/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 01 giờ 40 phút ngày 19/4/2020 tại thôn Hà Thủy 1, xã C, huyện Tuy Phong, bị cáo Ngô Văn L có hành vi cất giữ 0,1905 gam Heroin để sử dụng thì bị tổ tuần tra Công an xã C phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tại Cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì nghiện ma túy, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng, đây là hành vi trái pháp luật làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, tiếp tay cho những phần tử xấu duy trì tệ nạn ma túy đi ngược lại lợi ích chung của toàn xã hội nên cần xử phạt nghiêm để có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho ông Ngô Văn T (cha bị cáo) 01 xe mô tô hiệu Air Black màu đen biển số 86B1-46089 và trả cho Nguyễn Hoài N (vợ bị cáo) số tiền 21.000.000 đồng là có căn cứ.
Đối với vật chứng là gói nylon và 0,1294 gam heroin còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 359 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung H1, hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nghĩ nên tịch thu tiêu hủy do đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
ì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn L 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Gói nylon và 0,1294 gam heroin còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 359 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung H1, hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.
(Các vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/8/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong)
3. Về án phí:
Căn cứ: khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Ngô Văn L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện Tuy Phong; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Công an huyện Tuy Phong; - Những người tham gia tố tụng; - Chi cục THADS huyện Tuy Phong; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đồng Vũ |