- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bẩn sn PT vụ Lô Văn Trọng Đ202 - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lô Văn T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 43/2019/HS-ST ngày 01/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2019/HS-PT Ngày: 02/8/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ong Thân Thắng.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nhiên.
Bà Hoàng Thị Thu Hiền.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Lâm Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 02/8/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 94/TLPT-HS ngày 06/5/2019 đối với bị cáo Lô Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 43/2019/HS-ST ngày 01/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Bị cáo kháng cáo: Họ và tên: Lô Văn T, sinh ngày 04/8/1999 tại xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; tên gọi khác: Không có; nơi ĐKNKTT: Bản Q, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; con ông Lô Văn L, sinh năm 1978; con bà Lô Thị X, sinh năm 1978; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; Tạm giữ, tạm giam: không; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cứ trú, hiện tại ngoại. (Vắng mặt tại phiên tòa).
* Người bào chữa cho bị cáo: Trợ giúp viên Nguyễn Thị Như Q – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)
* Người tham gia tố tụng khác gồm bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lô Văn T và anh Kha Văn H thuê nhà trọ tại phường Đ, thành phố B từ khoảng tháng 4/2017 để đi làm thợ sơn. Ngày 29/4/2017 do được nghỉ lễ 30/4 nên T và anh H đến chơi với anh Trịnh Văn S hiện đang ở trọ tại thôn M, xã P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Đến ngày tối ngày 30/4/2017, Lô Văn T ở lại chơi với Trịnh Văn S còn Kha Văn H đi một mình đến Khu công nghiệp T, Bắc Ninh.
Đến khoảng 18 giờ ngày 01/5/2017, Trịnh Văn S rủ Lô Văn T và những người bạn cùng quê gồm: anh Vi Văn H, anh Lô Văn V, anh Lô Văn T1; anh Lô Văn T1, Lô Văn N đi ăn lẩu tại quán cơm trong chợ M, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Một lúc sau, Kha Văn H đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ đen trắng, biển kiểm soát 37C1- 060.** đến quán cơm, cùng ăn với mọi người. Trong khi ăn lẩu, T có sử dụng rượu.
Khoảng 20 giờ ngày 01/5/2017, Lô Văn T tự lý lấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 37C1- 060.** của anh Kha Văn H, điều khiển chở anh Vi Văn H ngồi giữa, anh Lô Văn V ngồi sau đi về nhà trọ ở thành phố B. Đến khoảng 21 giờ 15 phút ngày 01/5/2017, khi đi trên đường Châu Xuyên theo hướng đường bờ đê Châu Xuyên đi đường Thánh Thiên đến đoạn ngã ba đường Châu Xuyên và đường Đồng Cửa thuộc địa phận phường L, thành phố B, do không chú ý quan sát, không làm chủ được tốc độ nên đầu xe mô tô do T điều khiển đã va chạm với phần chắn bùn bên trái bánh trước xe mô tô mô tô nhãn hiệu Ferroli, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 98M5- 33** do ông Đỗ Đình T3 điều khiển đang bật xi nhan rẽ trái vào đường Đồng Cửa. Hậu quả anh V, ông T3, anh H và T ngã ra đường, được đưa đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang cấp cứu và điều trị. Đến 23 giờ ngày 01/5/2017 thì anh Lô Văn V tử vong; anh H sau đó được chuyển Bệnh viện đa khoa khu vực Tây Nam, tỉnh Nghệ An điều trị từ ngày 03/5/2017 đến ngày 08/5/2017 thì ra viện; ông T3 bị thương điều trị từ ngày 01/5/2017 đến ngày 05/5/2017 thì ra viện.
Sau khi xảy ra vụ tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và phương tiện liên quan đến vụ tai nạn. Kết quả cụ thể như sau:
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
- Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là khu vực ngã ba đường Châu Xuyên - Đồng Cửa, phường L, thành phố B, khu vực đường giao nhau đồng mức, mặt đường xe chạy trải bê tông nhựa bằng phẳng, đo chiều rộng đường Châu Xuyên rộng 6m, chiều rộng đường Đồng Cửa rộng 7m.
- Dấu vết trên hiện trường được đánh số thứ tự: Vị trí xe mô tô biển kiểm soát 98M5- 3374 đổ ký hiệu (1); vị trí xe mô tô biển kiểm soát 37C1- 060.** đổ ký hiệu (2); vị trí vết máu ký hiệu (3), (4), (5); vị trí vết cày xước ký hiệu (6), (7). Chọn điểm mốc là cột điện gắn biển báo tên đường Đồng Cửa và mép đường bên phải đường Châu Xuyên chiều đê Sông Thương đi đường Thánh Thiên làm chuẩn.
- Vị trí (1): xe mô tô biển kiểm soát 98M5- 33** đổ nằm bên trái xuống mặt đường xe chạy, đầu xe chếch hướng Đông Nam, đuôi xe chếch hướng Tây Bắc, đo tâm trục bánh trước và sau xe cách mép đường bên phải lần lượt là 6,5m và 5,3m, đo tâm trục bánh sau xe cách cột biển báo trên đường Đồng Cửa ở phía bên trái đường hướng đê Sông Thương là 4,9m.
- Vị trí (2): xe mô tô biển kiểm soát 37C1- 060.** đổ nằm bên phải xuống mặt đường hè phố, đầu xe chếch hướng Tây Nam, đuôi xe chếch hướng Đông Bắc, đo tâm trục bánh trước và sau xe cách mép đường bên phải lần lượt là 8,9m và 9,6m, đo tâm trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 37C1- 060.** cách tâm trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 98M5- 33** là 10,1m.
- Vị trí (3), (4), (5): vết máu trên mặt đường; vết máu số (3) trên mặt đường xe chạy có kích thước (2 x 1,1)m, đo tâm vết cách mép đường bên phải và cách tâm trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 37C1- 060.** lần lượt là 5,2 m và 4,6m; vết máu số (4) có kích thước (0,25 X 0,25)m trên mặt đường hè phố, đo tâm vết cách mép đường bên phải và cách tâm trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 37C1-060.** lần lượt là 6,9m và 4,6m; vị trí vết máu số (5) trên mặt đường hè phố có kích thước (0,4 X 0,3)m, đo tâm vết cách mép đường bên phải và cách tâm trục bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 37C1- 060.** lần lượt là 10m và 3m.
- Vị trí (6), (7): vết cày xước trên mặt đường chiều đê Sông Thương đi đường Thánh Thiên; vết số (6) trên mặt đường xe chạy kéo dài đến vị trí xe mô tô biển kiểm soát 98M5- 33** đổ là 2,8m đo điểm đầu vết (6) cách mép đường bên phải và cách hình chiếu mép đường bên phải đường Đồng Cửa hướng đi đường Châu Xuyên lần lượt là 5,8m và 1,1m; vết số (7) trên mặt đường xe chạy và mặt đường hè phố kéo dài đến vị trí xe mô tô biển kiểm soát 37C1- 060.** đổ là 7,6m, đo điểm đầu vết (7) cách mép đường bên phải là 6,8m.
* Kết quả khám xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ- đen- trắng, biển kiểm soát 37C1- 060.** do Lô Văn T điều khiển:
- Đầu tay nắm trước bên phải tại vị trí cách đất 103 cm có vết mài sát kim loại kích thước (2,5x0,5)cm. Tay phanh bên phải bị cong vênh hướng từ sau ra trước, đầu tay phanh bên phải tại vị trí cách đất 92cm có vết mài sát kim loại kích thước (0,5 x 1,5)cm chiều hướng từ trước ra sau. Cụm công tắc điều khiển trước bên phải bị vỡ, bật rời khỏi vị trí cố định.
- Phần ốp nhựa đầu xe phía trước bên trái tại vị trí cách đất 100cm bị bật, vỡ khuyết nhựa, mài sát nhựa kích thước (17x11)cm. Ốp nhựa đèn pha phía trước có nhiều vết mài sát nhựa, kích thước (10x15)cm chiều hướng từ trái sang phải. Mặt nạ phía trước bên trái và cụm đèn báo hiệu bên trái tại vị trí cách đất 85cm có nhiều vết mài sát nhựa, vỡ nhựa hướng từ trái sang phải kích thước (17x35)cm.
- Giá để chân trước bên phải bị cong hướng từ trước ra sau, tại đầu cao su để chân trước bên phải tại vị trí cách đất 34 cm có vết mài sát cao su hướng từ trước ra sau, kích thước (2x2,5)cm. Tại đầu giá để chân sau bên phải tại vị trí cách đất 47cm có vết mài sát kim loại bám dính chất màu trắng hướng từ trước ra sau. Ốp kim loại bảo vệ ống xả bên phải bị bẹp lõm, mài sát kim loại hướng từ trước ra sau kích thước (48x7)cm. Gương chiếu hậu phía trước bên trái bị xoay, gập khỏi vị trí cố định hướng từ trước ra sau. Cạnh ngoài bên phải lốp bánh trước có vết mài sát cao su kích thước (12x2)cm, cách tâm bánh 24cm.
* Kết quả khám xe mô tô nhãn hiệu Ferroli, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 98M5-33** do ông Đỗ Đình T3 điều khiển:
- Đầu tay nắm bên trái tại vị trí cách đất 94cm có vết mài sát kim loại kích thước (1,5x0,5)cm, phần cao su tay nắm bên trái bật rời khỏi vị trí cố định. Chân gương chiếu hậu bên trái bị cong hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái, không có gáo gương. Mặt nạ phía trước bị bật, vỡ hoàn toàn. Cánh yểm trước bên trái vỡ khuyết bật rời khỏi vị trí cố định, cạnh ngoài cánh yếm trái phần gãy rời có vết trượt xước sơn bám dính chất màu đen nghi cao su kích thước (6x7,4)cm;
- Cạnh sau bên trái chắn bùn bánh trước có vết trượt xước sơn, bám dính chất màu đen nghi cao su, hướng từ sau ra trước, kích thước (5,5x4,8)cm, tâm vết cách đất 34cm. Giá để chân trước bên trái bị gãy rời khỏi vị trí cố định, cần số bên trái cong vênh theo chiều từ sau ra trước và theo hướng từ trái sang phải. Tại phần phía trên cánh yếm bên phải tại vị trí cách đất 85cm có vết vỡ khuyết nhựa tạo thành hình tam giác kích thước (5,5x7)cm. Phần cốp xe bên phải tại vị trí cách đất 55cm bị bật khỏi vị trí cố định. Để chân sau bên trái tại vị trí cách đất 33cm có vết mài sát kim loại bám dính chất màu trắng.
* Kết quả khám nghiệm tử thi anh Lô Văn V:
- Mũi miệng đọng máu màu đỏ; tai phải chảy máu màu đỏ. Gò má phải có vết chợt da kích thước (3,5x2)cm. Môi trên bên phải có vết chợt da theo chiều dọc cơ thể kích thước (1,5x1)cm. Cằm bên phải có vết chợt da kích thước (2x0,8)cm. Cẳng tay phải có 3 vết chợt da kích thước (3x1,8)cm, (1x1,5)cm, (1,5x1,5)cm.
- Hông trái có vết chợt da kích thước (5x3)cm. Vai phải có hai vết chợt da kích thước (2x1,2)cm, (3x1)cm. Mặt trong 1/3 giữa cẳng chân trái có vết chợt da kích thước (3x1)cm.
- Mổ tử thi:
+ Sọ não: Tổ chức dưới da đầu không thấy tổn thương. Nứt vỡ xương sọ vùng thái dương phải theo chiều dọc dài 4,5cm. Vùng chẩm phải có vết vỡ xương thông vào trong hộp sọ kích thước (4x1,5)cm, liên tục về phía đỉnh có đường nứt vỡ xương sọ dài 6cm. Vùng thái dương trái có hai vết nứt vỡ xương sọ dài 5cm và 3cm.
+ Mở hộp sọ thấy: Chảy máu màng mềm bán cầu phải phía sau kích thước (7x6)cm. Chảy máu màng mềmbán cầu trái phía trước kích thước (13x8)cm. Tổ chức não phân liệt vỡ chất trắng và chất xám. Nứt vỡ xương nền sọ qua xương đá hai bên và xương bướm dài 13cm, rộng 0,5cm.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 3174/17/GĐPY ngày 03/5/2017, Trung tâm Pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận: Anh Lô Văn V chết do chấn thương sọ não, vỡ xương sọ, chảy máu nội sọ do tai nạn giao thông.
Tại Kết luận giám định số 894/KL-PC54 ngày 12/6/2017, Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
“1. Dấu vết trượt cao su ở cạnh ngoài bên phải lốp bánh trước trên xe mô tô 37C1- 060.** với các dấu vết gãy rời để chân trước bên trái; cong vênh cần số; gãy rời cánh yếm trái, cạnh ngoài có vết trượt xước sơn, bám dính chất màu đen nghi cao su; vết trượt xước sơn xe, bám dính chất màu đen nghi cao su ở cạnh sau bên trái chắn bùn bánh trước trên xe mô tô 98M5- 33** phù hợp với tình huống hai phương tiện chuyển động cùng chiều và hơi chếch chéo, xe mô tô 37C1- 060.** chuyển động từ phía sau tới, các vị trí va chạm với nhau tạo nên.
- Sau khi xảy ra va chạm, xe mô tô 37C1- 060.** đổ nghiêng phải trên mặt đường, cạnh bên phải của xe: đầu tay nắm, cánh yếm, phanh tay, phần ốp nhựa đầu xe, để chân trước, để chân sau, ốp kim loại bảo vệ ống xả tiếp xúc với mặt đường tạo nên các vết cong vênh, trượt xước xước nhựa, cao su, kim loại ở các vị trí trên; đồng thời để lại dấu vết cày xước mặt đường dài 7,6m.
- Sau khi xảy ra va chạm, xe mô tô 98M5- 33** đổ nghiêng trái trên mặt đường, cạnh bên trái của xe: đầu tay nắm, gương chiếu hậu bên trái, để chân sau tiếp xúc với mặt đường tạo nên các dấu vết trượt xước nhựa, cao su, kim loại ở các vị trí trên; đồng thời để lại dấu vết cày xước mặt đường dài 2,8m.
2. Vị trí va chạm giữa xe mô tô 37C1- 060.** và xe mô tô 98M5- 33** ở khu vực trước đầu dấu vết cày xước mặt đường dài 2,8m, thuộc phần đường bên trái (theo hướng đê sông Thương- đường Thánh Thiên).
3. Không đủ điều kiện xác định tốc độ của các phương tiện khi xảy ra tai nạn”.
Cơ quan điều tra đã yêu cầu Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang lấy mẫu máu xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Lô Văn T. Tại phiếu xét nghiệm số MS/BV- 01, SID: 040517- 4905, PID: 1705027285 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang kết quả nồng độ cồn trong máu của Lô Văn T là 104,9mg/dl.
Sau khi xảy ra tai nạn, Lô Văn T được cấp cứu điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang rồi chuyển Bệnh viện đa khoa khu vực Tây Nam, tỉnh Nghệ An điều trị đến ngày 16/6/2017 thì ra viện. Tại bản trích sao bệnh án số 1212 ngày 29/6/2017, Bệnh viện đa khoa khu vực Tây Nam, tỉnh Nghệ An xác nhận tình trạng thương tích của Lô Văn T khi vào viện như sau: Chấn thương sọ não, đa vết thương xây xát da.
Ngày 23/8/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố Bắc Giang đã trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh Bắc Giang giám định hệ thần kinh vận động và nhận thức của Lô Văn T. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 8489/18/TgT ngày 05/10/2018, Trung tâm Pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận: Lô Văn T không liệt vận động và thần kinh khu trú nhận thức được.
Đối với anh Vi Văn H và ông Đỗ Đình T3 bị thương nhẹ, không yêu cầu giám định thương tích và không yêu cầu bồi thường dân sự. Cơ quan điều tra đã trả ông T3 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Ferroli, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 98M5-33**, trả anh Kha Văn H chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ- đen- trắng, biển kiểm soát 37C1- 060.**. Anh H không yêu cầu gì về bồi thường dân sự.
Quá trình điều tra, gia đình bị can Lô Văn T đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình anh Lô Văn V số tiền 10.000.000 đồng. Đến nay đại diện hợp pháp của người bị hại là ông Lô Văn B không yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Lô Văn T.
* Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 28 tháng 2 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Lô Văn T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009.
* Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 43/2019/HS-ST ngày 01/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:
Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 202; điểm b, k, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 68, Điều 69, Điều 71, Điều 74 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009;
Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
- Tuyên bố bị cáo Lô Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lô Văn T 02 năm tù. Thời gian tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra án sơ thẩm còn giải quyết về trách nhiệm dân sự, án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
* Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong, ngày 08/4/2019 bị cáo Lô Văn T có đơn kháng cáo với nội dung: đề nghị TAND tỉnh Bắc Giang xem xét lại phần hình phạt tù của bản án, bị cáo xin được hưởng án treo.
* Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Lô Văn T vắng mặt. HĐXX công bố đơn kháng cáo và tài liệu kèm theo là đơn xin đề nghị giảm hình phạt tù cải tạo xuống hình phạt án treo (Bút lục số 409) thể hiện nội dung: Ngày 01/5/2017 bị cáo điều khiển xe máy chở em con chú ruột là Lô Văn V ngồi sau đã gây ra tai nạn làm em V bị chết. Công an thành phố B đã làm rõ sự việc, Tòa án nhân dân thành phố B đã xử phạt hai năm tù giam. Về hình phạt 02 năm tù đối với bị cáo là hơi nặng. Bị cáo xin được giảm mức hình phạt tù xuống án treo để chăm sóc bố mẹ khi đau ốm. Giấy thỏa thuận dân sự (Bút lục 410) thể hiện nội dung đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Lô Văn V tổng cộng 30 triệu đồng.
* Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nêu ra đã kết luận và đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 355; Điều 356- Bộ luật tố tụng hình sự 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo.
- Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Về tội danh nhất trí quan điểm của Viện kiểm sát. Về hình phạt đề nghị xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo có nhiều khó khăn; Sau khi gây án bị cáo đã cùng gia đình bồi thường cho đại diện gia đình bị hại (chú ruột) và hai bên đã hòa giải, thông cảm cho nhau, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, mới có 17 năm 08 tháng 27 ngày tuổi. Bản thân bị cáo cũng bị ảnh hưởng sức khỏe chấn thương sọ não từ vụ tai nạn. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, đã nhận thức được sai lầm nên đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo, cho bị cáo được hưởng án treo. Về án phí miễn cho bị cáo do là hộ nghèo.
* Kết thúc tranh luận các bên giữ nguyên quan điểm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Lô Văn T được làm trong thời hạn kháng cáo và gửi đến Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333- Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
. Về sự vắng mặt của bị cáo: Bị cáo đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt tù cho hưởng án treo. Việc xét xử theo nội dung kháng cáo của bị cáo không gây bất lợi cho bị cáo nên HĐXX căn cứ quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 351- Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt bị cáo Lô Văn T.
. Về tội danh xét xử đối với bị cáo, HĐXX thấy: Qua diễn biến phiên tòa, căn cứ lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng; căn cứ vào kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thấy đủ cơ sở xác định: Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 01/5/2017, tại khu vựa ngã ba giao nhau giữa đường Châu Xuyên với đường Đồng Cửa thuộc địa phận phường L, thành phố B, Lô Văn T không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ- đen- trắng, biển kiểm soát 37C1- 060.** trong trình trạng đã sử dụng rượu bia (nồng độ cồn trong máu vượt quá mức quy định) chở anh Lô Văn H và anh Lô Văn V ngồi sau, thiếu chú ý quan sát và không làm chủ được tốc độ (vi phạm khoản 8 Điều 8, khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ; khoản 6 Điều 5 Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ Giao thông Vận tải, điểm c khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/8/2013) nên đầu xe do T điều khiển đã va chạm với phần chắn bùn bên trái bánh trước xe mô tô nhãn hiệu Ferroli, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 98M5- 33** do ông Đỗ Đình T3 điều khiển, hậu quả làm anh Lô Văn V bị chết. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo theo tội danh và Điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2019/HS-ST ngày 01/4/ 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử bị cáo theo quy định tại điểm a, điểm b, khoản 2, Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ và đúng quy định pháp luật, không oan sai.
. Xét kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt tù xuống hưởng án treo của bị cáo, HĐXX thấy:
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bản án sơ thẩm xác định bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1, Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 là có căn cứ.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa sơ thẩm và tại cơ quan điều tra, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; sau tai nạn, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Lô Văn Vượng 10 triệu đồng; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống tại vùng kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, không được tuyên truyền và giáo dục pháp luật đầy đủ; đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được qui định tại điểm b, điểm k, điểm p, khoản 1 và khoản 2, Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Bản án sơ thẩm đã đánh giá và áp dụng cho bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
. Về tính chất hành vi phạm tội và mức độ lỗi trong vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm qui định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội và tâm lý hoang mang cho người tham gia giao thông, bị xã hội quần chúng lên án. Bị cáo điều khiển xe mô tô trong trình trạng đã sử dụng rượu bia (nồng độ cồn trong máu vượt quá mức quy định), thiếu chú ý quan sát và không làm chủ được tốc độ gây tai nạn nên có lỗi chính trong việc gây ra tai nạn, hậu quả làm anh Lô Văn V bị chết, ông Đỗ Đình T3 và anh Vi Văn H bị thương nhẹ. Do vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
Tuy nhiên khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo mới có 17 năm 8 tháng 27 ngày tuổi nên nhận thức pháp luật có sự hạn chế. Án sơ thẩm sau khi đánh giá toàn diện, khách quan hành vi phạm tội của bị cáo, tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo đã xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Vì vậy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo cũng như quan điểm đề nghị của người bào chữa cho bị cáo.
Tại quá trình xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu thể hiện đã bồi thường cho gia đình anh Lô Văn V được tổng cộng 30 triệu đồng. Như vậy sau khi xét xử sơ thẩm mặc dù gia đình bị cáo cũng thuộc diện hộ nghèo tại địa phương nhưng cũng đã có trách nhiệm bồi thường thêm 20 triệu đồng cho gia đình bị hại. Đây là tình tiết mới thể hiện thái độ ăn năn hối cải và tích cực khắc phục hậu quả của bị cáo. Vì vậy để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội, HĐXX căn cứ điểm b, khoản 1 và khoản 2, Điều 355; điểm c, khoản 1, Điều 357- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt tù đối với bị cáo Lô Văn T.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Án phí phúc thẩm: Do chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm nên theo quy định tại điểm h, khoản 2, Điều 23- Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 351; điểm b, khoản 1 và khoản 2, Điều 355; điểm c, khoản 1, Điều 357- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lô Văn T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 43/2019/HS-ST ngày 01/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
2. Căn cứ điểm a, điểm b, khoản 2, Điều 202; điểm b, điểm k, điểm p, khoản 1 và khoản 2, Điều 46; Điều 33; Điều 68, Điều 69, Điều 71, Điều 74 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; Căn cứ điểm h, khoản 2 Điều 23-Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Tuyên bố bị cáo Lô Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lô Văn T 01 năm 03 tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bắt thi hành án.
3. Án phí phúc thẩm: bị cáo Lô Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - CA, VKS, TA thành phố B; - Chi cục THADS thành phố B; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, HCTP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Ong Thân Thắng |