vanban.org

Bản án 91/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 11/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Qúy Phúc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Qúy Phúc T 05 (năm) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08/5/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYÊN QUÝ PHÚC T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 91/2019/HS-ST
Ngày: 11/9/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Trƣơng Quốc Triều

Các Hội thẩm nhân dân:

1/Ông Trịnh Phƣớc Đức

2/Ông Ngô Rạng Đông

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc tham gia phiên tòa: Bà Đặng Mỹ Phƣơng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Quý Phúc T, sinh năm: 1995, tại: Đ L, B Th; Nơi cư trú: ấp 1, xã X T, huyện C M, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn T và bà Lê Thị Minh H; Bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 08/5/2019. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ, ngày 5/5/2019 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Qúy Phúc T gọi điện thoại cho người bạn tên Ng (chưa rõ nhân thân) ở tỉnh T N, nhờ Ng mua dùm ma túy (loại ma túy đá) gửi ra huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang cho T cất giấu để sử dụng. Đến khoảng 16 giờ, ngày 7/5/2019, N điện thoại nói T là đã mua ma túy gửi cho T qua nhà xe K Ng Th ở thành phố H T, tỉnh Kiên Giang. Khoảng 20 phút sau, có người bên nhà xe K Ng Th gọi cho T nói với T có một gói hàng gửi cho T từ T N và hỏi T đang ở đâu để giao hàng, T nói đang ở P Q nên nhà xe thông báo gói hàng của T được gửi bằng tàu cao tốc H T-PQ. Đến khoảng 11 giờ, ngày 08/5/2019 người bên nhà xe K Ng T điện thoại thông báo cho T gói hàng của T đã được gửi bằng tàu cao tốc H T- PQ. Đến khoảng 11 giờ ngày 8/5/2019, người bên nhà xe K N T điện thoại thông báo cho T gói hàng đã được gửi cho tàu Express, chuyến 11 giờ 45 phút. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng, T rủ Lê Thanh T đi đến bến tàu cao tốc thuộc ấp B V, xã H N, huyện Phú Quốc để nhận quà từ quê gửi ra. Sau đó, T và T đi đến nhà của anh Nguyễn Thái T (thường gọi là quậy), ở ấp G D, xã G D, huyện Phú Quốc hỏi mượn xe môt tô biển số kiểm soát 60T6-6449 (xe này T mua của một người thanh niên không rõ nhân thân, xe không có giấy tờ) nói là đi nhận quà từ quê gửi ra. Khi đi T điều khiển xe chở T từ xã G D xuống bến tàu tại B V-H N. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng, T trực tiếp xuống bến tàu nhận gói hàng có chứa ma túy bên trong bỏ vào túi xách da, màu đen đeo trên người rồi lên xe cho T chở về G D để cất giấu ma túy. Khi T chở T đến vòng xoay thuộc ấp B V, xã H N thì lực lượng tuần tra Công an huyện P Q dừng xe kiểm tra và phát hiện bắt quả tang đang cất giấu 02 bịch ma túy đá trong túi da màu đen đeo trên người. Ngày 15/5/2019 Nguyễn Qúy Phúc T bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Quốc khởi tố ra lệnh tạm giam để điều tra.

*Vật chứng thu giữ: 01 bịch nylon trong suốt, có rãnh gài màu xanh, kích thước 3,5 cm x 05 cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất; 01 bịch nylon trong suốt, có rãnh gài màu đỏ, kích thước 04 cm x 7,5 cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất; 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Dream II, màu tím than, biển số 60T6-4449, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đên, số Imei: 3532400900787022, số Imei 2: 353420092787020, đã qua sử dụng.

*Tại bản Kết luận giám định số 326/KL-KTHS ngày 13/5/2019 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Kiên Giang kết luận: các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa trong hai bịch ny lon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine khối lượng mẫu gửi giám định là 9,7966 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 326/KL-KTHS ngày 13/5/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

Bản cáo trạng số 101/CT-VKSPQ ngày 13 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc đã truy tố bị cáo Nguyễn Qúy Phúc T về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015.

Sau phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát thực hành quyền công tố trình bày lời luận tội đối với bị cáo. Qua phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Qúy Phúc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Nguyễn Qúy Phúc T từ 05 đến 06 năm tù.

Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 9,6611gam Methamphetamine và bao gói đựng mẫu sau giám định được niêm phong.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei: 3532400900787022, số Imei 2: 353420092787020, đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Đối với chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại Dream II, màu tím than, biển số 60T6-4449, đã qua sử dụng. Anh Ngô T T mua của một người không quen biết, trong quá trình điều tra phát hiện đây là chiếc xe mà ông Lê Văn H, sinh năm, 1954 có địa chỉ tại ấp C V, xã G D, huyện P Q bị mất trộm. Xét đây là tang vật trong vụ án trộm cắp tài sản nên Công an huyện Phú Quốc tang tạm giữ để điều tra làm rõ.

Đối với người tên Ngh mua ma túy cho Toàn Cơ quan cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý sau.

Đối với Lê Thanh T không biết Nguyễn Qúy Phúc T tàng trữ ma túy nên không xử lý hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng viện kiểm sát truy tố và lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã tuân thủ nghiêm các quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đánh giá chứng cứ: Vào ngày 08/5/2019 tại ấp Bãi Vòng, xã Hàm Ninh, huyện Phú Quốc tổ tuần tra Công an huyện Phú Quốc phát hiện Lê Thanh T đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Dream II, màu tím than, biển số 60T6-4449, phía sau chở Nguyễn Qúy Phúc T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra thì phát hiện trong cặp da màu đen đang đeo trên người của T có một hộp giấy, bên trong hộp giấy có hai bịch ny lon bên trong chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng không đồng nhất, T khai nhận đó là ma túy mua về sử dụng.

*Tại bản Kết luận giám định số 326/KL-KTHS ngày 13/5/2019 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Kiên Giang đã kết luận: các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa trong hai bịch ny lon mà bị cáo tàng trữ là chất ma túy, loại Methamphetamine khối lượng mẫu gửi giám định là 9,7966 gam.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Như vậy Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở để xác định cáo trạng mà viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc truy tố bị cáo về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, làm suy thoái nòi giống, băng hoại đạo đức và ảnh hưởng đến phẩm giá con người. Tại thời điểm phạm tội bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi cất giữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng cần ma túy để sử dụng mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và cũng phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thật thà thai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 9,6611 gam Methamphetamine và bao gói đựng mẫu sau giám định được niêm phong.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đên, số Imei: 3532400900787022, số Imei 2: 353420092787020, đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Qúy Phúc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Qúy Phúc T 05 (năm) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08/5/2019.

2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 9,6611 gam Methamphetamine và bao gói đựng mẫu sau giám định được niêm phong.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đên, số Imei: 3532400900787022, số Imei 2: 353420092787020, đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.

(Tang vật trên đã được chuyển giao cho chi cục thi hành án Dân sự huyện Phú Quốc theo quyết định chuyển giao vật chứng số 61/QĐ-VKSPQ-HS ngày 13/8/2019)

3. Về án phí căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ