vanban.org

Bản án 91/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước Tuyên án 14/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố:Bị cáo KIÊN MÔ N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:Bị cáo KIÊN MÔ N01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/6/2019. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Kiên Mô N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố:Bị cáo KIÊN MÔ N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƠN THÀNH
TỈNH BÌNH PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 91/2019/HS-ST
Ngày: 14-10-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƢỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Vũ Đình Kiên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Đính

Ông Nguyễn Việt Thành

- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Thanh Phương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Bồ Đức Trọng – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 10 năm 2019 tại Toà án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 94/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2019/QĐXXST-HS ngày 25/9/2019 đối với bị cáo:

KIÊN MÔ N, sinh năm: 1990 tại Sóc Trăng; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT: Ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở trước khi bị bắt: Ấp 3, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bình Phước;Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Khơ me; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Kiên D và bà Trà Thị S; vợ Tạ Thị Mỹ P; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2019 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

KIÊN MÔ N là người nghiện ma túy (Methamphetemine), thông qua một số người nghiện tại địa bàn thị trấn Chơn Thành, KIÊN MÔ N biết số điện thoại của một thanh niên (không rõ nhân thân, địa chỉ) là người bán ma túy đá nên đã nhiều lần mua để sử dụng, số tiền mua ma túy là 700.000đồng đến 800.000đồng.

Cách thức mua như sau: Trước khi đi mua ma túy thì KIÊN MÔ N gọi điện cho người bán nói số tiền mua. Sau đó, người bán ma túy hẹn địa điểm (không cố định) để mua bán. Sau khi gọi điện, KIÊN MÔ N ra đường Quốc lộ 13 đón xe ô tô khách đi ngược về hướng Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 50 phút thì đến khu vực hẹn. Đến địa điểm, cả hai không gặp mặt mà liên lạc mua bán qua số điện thoại, người thanh niên bán ma túy yêu cầu N bỏ tiền tại gốc cây ven đường, sau đó chỉ cho N gói thuốc lá chứa ma túy đá. KIÊN MÔ N bỏ tiền vào gốc cây rồi đến điểm chỉ lấy gói thuốc lá, kiểm tra bên trong có ma túy nên bỏ vào người và tiếp tục đón xe ô tô khách về Công ty Nhật Tiến cất giữ và sử dụng.

Với cách thức như trên, vào ngày 23/6/2019, KIÊN MÔ N tiếp tục gọi điện cho người thanh niên trên để mua 800.000đồng ma túy đá (08 gói). Tuy nhiên, do chưa có tiền lương nên KIÊN MÔ N đã sử dụng điện thoại di động để đổi ma túy. Sau khi mua được 08 gói ma túy trên, KIÊN MÔ N đem về Công ty Nhật Tiến cất giữ và đã sử dụng một phần nhỏ, số ma túy còn lại KIÊN MÔ N cất trong nồi cơm điện không nắp thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, thu giữ.

Kết quả giám định số 160/2019/GĐ – MT ngày 28 tháng 6 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước xác định: Tinh thể màu trắng, dạng rắn chứa trong 08 gói N lon là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,5804 gam.

Bản cáo trạng số 93/Ctr-VKS ngày 12/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo KIÊN MÔ N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Vật chứng vụ án:

01 phong bì có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước bên trong có chứa 0,4059g ma túy đá (mẫu vật hoàn lại sau giám định); 01 chai nhựa màu xanh trên vỏ chai có tem ghi chữ “Vĩnh hảo khoáng chanh Lemona”, không có nắp; 02 kéo cắt bằng kim loại màu trắng; 01 ống thủy tinh dài 8,3cm, đường kính 0,5cm; 02 hột quẹt gas bị bễ phần đầu; 01 ống nhựa màu sọc trắng dài 10cm, đường kính 0,5cm, một đầu bị vát nhọn.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo KIÊN MÔ N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo KIÊN MÔ N mức án từ 18 đến 24 tháng tù.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành còn đề nghị xử lý vật chứng và các vấn đề khác của vụ án theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa: Bị cáo KIÊN MÔ N thừa nhận toàn bộ hành vi mua 08 gói ma túy của một thanh niên chưa rõ nhân thân lai lịch với giá 800.000đồngcất giấu trong phòng trọ của Công ty Nhật Tiến tại ấp 3, thị trấn Chơn Thành, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước với mục đích sử dụng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận và kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

.Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợpvới các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản kiểm tra hành chính, kết luận giám định số:160/2019/GĐ-MT ngày 28/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Phướcvà các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

KIÊN MÔ N là người nghiện ma túy nên ngày 23 tháng 6 năm 2019, với mục đích có ma túy để sử dụng nên KIÊN MÔ N mua 08 gói ma túy đá của đối tượng không rõ nhân thân lai lịch với giá 800.000 đồng. Kết luận giám định số:160/2019/GĐ-MT ngày 28/6/2019 của Phòng kỹ thuật Hình sự công an tỉnh Bình Phước xác định khối lượng ma túy KIÊN MÔ N tàng trữ bị thu giữ là 0.5804g ma túy loại Methamphetamine. Như vậy, hành vi của KIÊN MÔ N đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, đồng thời gây mất an ninh trật tự địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo là người dân tộc Khơ me, hiểu biết pháp luật hạn chế. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cần phải xử lý bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo bị cáo, giúp bị cáo cai nghiện, đoạn tuyệt với ma túy để thành người có ích cho xã hội và cũng để giáo dục, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sựnăm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Về vật chứng:

01 phong bì có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước bên trong có chứa 0,4059g ma túy đá (mẫu vật hoàn lại sau giám định) là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

01 chai nhựa màu xanh trên vỏ chai có tem ghi chữ “Vĩnh hảo khoáng chanh Lemona”, không có nắp; 02 kéo cắt bằng kim loại màu trắng; 01 ống thủy tinh dài 8,3cm, đường kính 0,5cm; 02 hột quẹt gas bị bễ phần đầu; 01 ống nhựa màu sọc trắng dài 10cm, đường kính 0,5cm, một đầu bị vát nhọn là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

. Các vấn đề khác của vụ án:

Đối tượng bán ma túy cho KIÊN MÔ N do chưa xác định được nhân thân lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chơn Thành đã tách ra, tiếp tục xác minh xử lý sau nênHội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

1. Tuyên bố:Bị cáo KIÊN MÔ N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt:Bị cáo KIÊN MÔ N01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/6/2019.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước bên trong có chứa 0,4059g ma túy đá (mẫu vật hoàn lại sau giám định); 01 chai nhựa màu xanh trên vỏ chai có tem ghi chữ “Vĩnh hảo khoáng chanh Lemona”, không có nắp; 02 kéo cắt bằng kim loại màu trắng; 01 ống thủy tinh dài 8,3cm, đường kính 0,5cm; 02 hột quẹt gas bị bễ phần đầu; 01 ống nhựa màu sọc trắng dài 10cm, đường kính 0,5cm, một đầu bị vát nhọn.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo KIÊN MÔ N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáoKIÊN MÔ N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ