vanban.org

Bản án 91/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 08/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Quố c D phạm tội “Tàng trữ trái phép chấp ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điề u 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lâm Quố c D - 01 (mộ t) năm 06 (sáu) tháng tù. Thờ i hạn chấ p hà nh hì nh phạ t tù của bị cáo được tính từ ngày 29/8/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung là… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Lâm Quốc D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lâm Quố c D phạm tội “Tàng trữ trái phép chấp ma túy”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Hình sự làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2018/HS-ST.
Ngày: 08-11-2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Dương Thị Phụng.

Bà Võ Thị Mỹ Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Minh Bả o - Thư ký Tò a á n nhân dân thà nh phố V, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Hoài Bảo - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2018 tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân thành phố V xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2018/TLST-HS, ngày 05 tháng 10 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩ m số: 85/2018/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Lâm Quố c D, sinh năm 1983 tại Vĩnh Long.

Nơi cư trú: ấp P, xã L, huyệ n T, tỉnh Vĩnh Long ; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ văn hoá (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việ t Nam; con ông Lâm Văn T và bà Nguyễ n Thị M; có vợ là Phạm Thị T và 01 ngườ i con là Lâm Minh T ; tiền án: Không có , tiền sự: Mộ t lầ n và o năm 2017, về hà nh vi sử dụ ng trá i phé p chấ t ma tú y ; nhân thân: Có tiền sự chưa đượ c xóa; bị bắt tạm giữ ngày 29/8/2018 và tạm giam đến nay, bị cáo có mặt.

- Ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan : Ông Nguyễ n Thanh K , sinh năm 1975, nơi cư trú : ấp 1, xã Đ, huyệ n L, tỉnh Vĩnh Long, vắ ng mặ t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lâm Quố c D là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2017. Vào lúc 01 giờ 50 phút, ngày 10/02/2018 D điề u khiể n xe môtô biể n kiể m soá t số : 93H2-7699 từ xã Đ, huyệ n L, tỉnh Vĩnh Long, đến khu vực chợ Kinh Cụt , khóm N, Phườ ng 1, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long để tìm mua ma túy sử dụng , D gặ p mộ t ngườ i thanh niên không rõ họ tên, đị a chỉ , D hỏ i mua ma tú y (Heroin) vớ i giá 150.000 đồ ng, sau khi nhậ n tiề n củ a D ngườ i thanh niên đưa cho D mộ t gó i giấ y bạ c mà u trắ ng có chấ t bộ t mà u trắ ng bên trong là chấ t ma tú y (Heroin), D cầ m gó i giấ y bạ c trong tay trá i và điều khiển xe chạy về đến khu vực trước Ngân hàng Sacomba

nk, Phườ ng 1, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long thì gặp lự c lượ ng Công an thà nh phố V đang tuầ n tra phát hiện và bắt quả tang , tang vậ t thu đượ c là gó i ma tú y D đang cầ m trong tay , tiế p tụ c kiể m tra trên ngườ i Công an thu đượ c trong tú i á o củ a D có số tiề n 29.000 đồ ng, trong tú i quầ n bên trá i củ a D c ó 01 điệ n thoạ i di độ ng hiệ u Nokia , 01 lưỡ i lam, mộ t ố ng kim tiêm (trong baga xe), tấ t cả đã qua sử dụ ng.

Theo Kết luận giám định số : 84/KLGĐ-PC54, ngày 11/02/2018 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉ nh Vĩ nh Long kế t luậ n : Số chấ t bộ t mà u trắ ng chứ a trong gó i giấ y bạ c mà u trắ ng là chấ t ma tú y (Heroin), có khối lượng 0,1607 gam.

Tại Bản cáo trạng số: 80/CT-VKSND-TPV, ngày 28/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, truy tố bị cáo Lâm Quố c D về tội “Tàng trữ trái phép chấ t ma tú y'' theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Sau khi bị cá o nghe Kiể m sá t viên đọ c xong Cá o trạ ng bị cá o không có ý

kiến gì và đồng ý với nội dung Cá o trạ ng mà Việ n kiể m sá t nhân dân thành phố V đã truy tố đố i vớ i bị cá o về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông K vắng mặt tạ i phiên tò a nhưng đã có lời khai tạ i cơ quan điề u tra.

Sau khi nghe lờ i trì nh bà y củ a bị cá o tại phiên tò a. Quan điể m củ a Kiể m sá t viên tạ i phiên tò a là giữ nguyên quan điể m truy tố bị cá o theo Cá o trạ ng số : 80/CT-VKSND-TPV ngày 28/9/2018 mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố bị cáo Lâm Quố c D về tội “Tàng trữ trái phép chấ t ma tú y '' theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Khi luận tội xong, Kiể m sá t viên đề nghị phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù theo tộ i danh , điề u luậ t mà Cá o trạ ng đã truy tố đối với bị cáo , về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy và đề nghị trả lại tiền cho bị cáo , nhưng tiế p tụ c quản lý để đảm bảo việc thi hành án , không đề nghị á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tham gia tranh luận.

Kế t thú c phầ n tranh luậ n, bị cáo nói lời sau cùng: “Bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái , bị cáo rất ăn năn, xin Hội đồng xét xử xem xét giả m nhẹ hình phạt cho bị cáo”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng: Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự: Ngườ i nà o tà ng trữ trá i phé p chấ t ma tú y mà không nhằ m mụ c đí ch mua bá n , vậ n chuyể n, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc mộ t trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”:

“c) Heroin, cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khố i lượ ng từ 0,1 gam đế n dướ i 0,5 gam”, đố i chiế u vớ i điề u luậ t nêu trên, bị cáo tàng trữ khối lượ ng ma tú y theo giá m đị nh có khố i lượ ng 0,1607 gam, như vậ y hà nh vi củ a bị cáo D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, lời nhận tội của bị cáo đã phù hợp với các chứ ng cứ thu thậ p đượ c trong quá trì nh điề u tra , phù hợp với lời khai của người chứng kiế n. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố bị cáo Lâm Quố c D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tú y '' theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị cáo cố ý xâm phạm đế n quyề n độ c quyề n của Nhà nước về quản lý chấ t ma tú y. Ý thức của bị cáo biết rõ hành vi nêu trên là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo cố tình thực hiện làm cho hậu quả xãy ra, bị cáo có đủ năng lực về nhận thức cũng như điều khiển hành vi, nên bị cáo phải chịu hình phạt do hành vi của bị cáo đã thự c hiệ n. Do vậ y, hành vi của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm , nhằm để răn đe , giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội và góp phần ổn định tình hình chính trị , trật tự an toàn xã hội tại địa phương, cầ n phả i á p dụ ng hì nh phạ t tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thờ i gian nhấ t đị nh theo quy đị nh tạ i Điề u 38 của Bộ luậ t Hì nh sự , để cho bị cáo có thờ i gian họ c tậ p, cải tạo và trở thành người công dân có ích cho xã hội sau này.

Xét về nhân thân củ a bị cá o, bị cáo không có tiền án, nhưng đã có 01 tiền sự về hà nh vi sử dụ ng trá i phé p chấ t ma tú y , bị phạt hành chính vào tháng 5 năm 2017. Tuy nhiên, khi phạ m tộ i trong quá trình điều tra cũ ng như tạ i phiên tòa bị cá o đã thậ t thà khai bá o , ăn năn hối cải và đã ra đầu thú , nên có căn cứ cho bị cá o hưở ng các tì nh tiế t giả m nhẹ trá ch nhiệ m hì nh sự quy đị nh tạ i điể m

s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Từ nhữ ng căn cứ nêu trên , xét thấy Kiể m sá t viên đề nghị mứ c hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù theo tộ i danh, điề u luậ t mà Cá o trạ ng đã truy tố đối với bị cáo là có cơ sở , nên Hộ i đồ ng chấ p nhậ n . Tuy nhiên, bị cáo ra đầu thú nhưng Kiể m sá t viên không đề nghị áp dụng khoản 2 Điề u 51 của Bộ luật Hình sự làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là chưa đầy đủ , Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng thêm khoản 2 Điề u 51 của Bộ luật Hình sự làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như đã nêu trên mới là phù . Đồng thời, việ c đề nghị củ a Kiể m sá t viên về xử lý vật chứng là phù hợ p , nên Hộ i đồ ng xé t xử chấ p nhậ n.

Về hì nh phạ t bổ sung , theo quy định tạ i khoả n 5 Điề u 249 của Bộ luật Hình sự quy định “Ngườ i phạ m tộ i cò n có thể bị phạ t tiề n từ 5.000.000 đồ ng đế n 500.000.000 đồ ng…………tị ch thu mộ t phầ n hoặ c toà n bộ tà i sả n ”, do đó , bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo cá c tà i liệ u, chứ ng cứ trong hồ sơ vụ á n đượ c kiể m tra tạ i phiên tò a cho thấ y bị cá o không có nghề nghiệ p ổn định, không có thu nhậ p , không có tà i sả n nà o khá c . Nên Hộ i đồ ng xé t xử không á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung là phạ t tiề n đố i vớ i bị cá o.

Về vật chứng, hiện nay Cơ quan điều tra có giữ 01 gói niêm phong sau giám định , 01 lưỡ i lam, 01 ống kim tiêm đã qua sử dụng , đây là vậ t chứ ng liê n quan đế n hành vi phạm tội, vậ t Nhà nướ c cấ m tà ng trữ và vậ t không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, số tiề n củ a bị cáo không liên quan đế n hành vi phạm tội, nên đượ c trả lạ i cho bị cá o , nhưng tiế p tục quản lý để đảm bảo việc thi hành án . Đối với xe môtô biển kiểm soát số : 93H2-7699 và điện thoại di động hiệu Nokia , qua điề u tra là tà i sả n củ a anh K , bị cáo mượ n dù ng, anh K không biế t bị cá o sử dụ ng và o mụ c đí ch tà ng trữ chấ t ma tú y , anh K không có lỗ i, Cơ quan điề u tra đã xử lý trả lạ i cho anh K xong, nên không đề cậ p xử lý tạ i phiên tò a.

Bị cáo còn phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiề n 200.000 đồ ng, theo quy định tại khoản 2 Điề u 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luậ t Tố tụng hình sự và điể m a khoả n 1 Điề u 23 Nghị quyết số : 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lâm Quố c D phạm tội “Tàng trữ trái phép chấp ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điề u 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lâm Quố c D - 01 (mộ t) năm 06 (sáu) tháng tù. Thờ i hạn chấ p hà nh hì nh phạ t tù của bị cáo được tính từ ngày 29/8/2018.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong sau giám đị nh, 01 lưỡ i lam, 01 ống kim tiêm đã qua sử dụng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/10/2018 giữa Công an thành phố V và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V).

- Trả lại cho bị cáo số tiền 26.000 đồ ng (Hai mươi sáu ngàn đồng), theo biên lai thu tiề n số 003895 ngày 04/10/2018 và 3.000 đồ ng (Ba ngà n đồ ng) theo biên lai thu tiề n số 003801 ngày 26/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, nhưng tiế p tụ c quả n lý để đả m bả o việ c thi hà nh á n.

3. Về trách nhiệm nộp á n phí:

Áp dụng khoản 2 Điề u 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luậ t Tố tụng hình sự và điể m a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số : 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội . Buộ c bị cá o Lâm Quố c D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngà n đồ ng) tiề n á n phí hì nh sự sơ thẩ m.

4. Về quyề n khá ng cá o:

Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thờ i hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngườ i có quyề n lợ i và nghĩ a vụ liên quan vắ ng mặ t có quyền kháng cáo trong thờ i hạn 15 ngày, kể từ ngày nhậ n đượ c bả n á n hoặ c bả n á n đượ c niêm yế t theo quy đị nh củ a phá p luậ t.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhậ n:

Cỡ chữ