- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Công H - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố Lê Công H phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 140 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2018/HS-ST Ngày: 18-6-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đăng Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Soan
2. Bà Lê Thị Hoa
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền -
Cán bộ Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2018 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố
Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2018/TLST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Công H, sinh ngày 03//11/1986 tại Thành phố Hồ Chí
Minh; nơi cư trú: Đưởng P, phường B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Đo đạc công trình; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con Lê Công H (chết) và bà Phạm Thị H sinh năm 1965; chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 02/01/2018 đến ngày 03/01/2018 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Đào Duy N, sinh năm 1959; cư trú tại: Đường Q, phường H,
quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Công H là người lao động tại xưởng gỗ Như Hoa trên đường Quang
Trung, Phường 12, quận Gò Vấp của ông Đào Duy N. Khoảng 15 giờ 00 ngày 21/3/2016, ông N phân công H đi nhận tiền hàng và giao chiếc xe máy biển số 68HE-5210 cho H để đến cơ sở mộc của ông Phạm Ngọc C trên đường Tô Ngọc Vân, phường Thạnh Xuân, Quận 12. Sau khi nhận số tiền 19.156.000 đồng từ ông C, H không đem về giao cho ông N mà sử dụng để trả nợ, rồi bỏ trốn cùng với chiếc xe máy.
Ngày 09/8/2016, cơ quan Điều tra Công an quận Gò Vấp ra quyết định
khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh bắt, tạm giam đối với Lê Công H nhưng H đã bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 02/01/2018, Lê Công H ra đầu thú.
Bản cáo trạng số 94/CTr-VKS ngày 07/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân
quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Lê Công H về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 140 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Bị hại trình bày: Ông đã nhận được số tiền 25.000.000 đồng (bao gồm số
tiền hàng 19.156.000 đồng và giá trị chiếc xe gắn máy) từ bà Lê Thúy A là chị của Lê Công H. Ông xác nhận không có bất cứ yêu cầu nào khác trong vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp thực hành quyền công tố
tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị:
- Tuyên bố Lê Công H phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản;
áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 140, các điểm b, i và s Khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.
Bị cáo không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo
hưởng mức án khoan hồng vì đã nhận thức được hành vi sai phạm của mình và quyết tâm sửa chữa, không vi phạm pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Điều tra
viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên thực hiện hành vi, quyết định tố tụng, thu thập chứng cứ, tài liệu theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, việc thu thập chứng cứ, tài liệu của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về nội dung:
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản
cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Lê Công H là người lao động tại xưởng gỗ Như Hoa trên đường Quang Trung, Phường 12, quận Gò Vấp của ông Đào Duy N. Khi được giao việc đi nhận tiền hàng và được giao chiếc xe máy biển số 68HE-5210 hiệu Honda để sử dụng, bị cáo đã đến gặp ông Phạm Ngọc C nhận số tiền 19.156.000 đồng. Nhưng sau đó, bị cáo không đem về giao cho ông N mà chiếm đoạt số tiền và chiếc xe máy nêu trên, rồi bỏ trốn.
Căn cứ Kết luận số 113/KL ngày 04 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng định
giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Gò Vấp thì: Ước tính giá trị chiếc xe máy Honda biển số 68HE-5210, số khung 453713, số máy 68HE-5210 do hãng Honda sản xuất đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 21/3/2016 là 1.950.000 đồng. Cùng với việc xem xét lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ án, Hội đồng xét xử xét thấy Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm a Khoản 1 Điều 140 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự
xã hội, lợi dụng sự tin tưởng của người khác để thực hiện một cách cố ý chiếm đoạt bất hợp pháp tài sản của họ nên cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Gia đình của bị cáo đã thỏa thuận
bồi thường cho bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i và s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt. Cũng xét, bị cáo đang có việc là ổn định, chưa vi phạm chính sách pháp luật tại địa phương, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng nên áp dụng các khoản 1 và 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho hưởng án treo để bị cáo có điều kiện tu sửa bản thân, chăm lo cho gia đình.
Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân
thân của bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng Khoản 5 Điều 140 của Bộ luật Hình sự để phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Bị cáo khai đã gửi chiếc xe máy biển số 68HE-5210 tại bãi xe của siêu thị
BigC trên đường Nguyễn Kiệm, quận Gò Vấp; còn ông T khai là Trưởng an ninh siêu thị BigC thì trong thời gian từ năm 2016 đến nay không lưu giữ chiếc xe gắn máy nào ở bãi xe của siêu thị. Do gia đình của bị cáo đã thương lượng, thỏa thuận với bị hại bồi thường số tiền 25.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2
Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố Lê Công H phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa
đổi, bổ sung năm 2009, các điểm b, i và s Khoản 1 Điều 51, các Khoản 1 và 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt Lê Công H 01 (Một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử
thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án là ngày 18 tháng 6 năm 2018.
Giao Lê Công H cho Ủy ban nhân dân Phường 14, quận Gò Vấp, Thành
phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1
Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo rõ.
2. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015,
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình
sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - Viện kiểm sát Q. Gò Vấp; - Chi cục THADS Q. Gò Vấp; - Công an Q. Gò Vấp; - Người tham gia tố tụng; - UBND P.14, Q. Gò Vấp; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Đăng Tân |