- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Ngọc H phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 140 Bộ luật hình sự năm 19…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Ngọc H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chi m đoạt tài sản”.
| T A ÁN NH N D N TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2017/HSST Ngày: 04/8/2017 |
NH N DANH
N C C N H A X H I CH N H A VI T NAM
T A ÁN NH N D N TỈNH BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Công Đồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguy n Tr ng Nam: Cán bộ hưu.
Ông Lê Văn Lâm: Cán bộ hưu.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: à Lưu Th Tuy t Nhung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Mạnh - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 04 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 30/2017/HSST ngày 30/5/2017 đối với bị cáo:
Lâm Ngọc H, sinh năm 1979.
Nơi ĐKHKTT: xóm 10C, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Công nhân. Học vấn: 9/12; Bố đẻ: Lâm Xuân M (đã mất); mẹ đẻ: Phạm Thị H, sinh năm 1954; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con th 2; có v là Nguy n Thị T1, sinh năm 1980; bị cáo có 2 con; lớn sinh năm 2003, nh sinh năm 2011.
Tiền án: Tại bản án hình sự phúc thẩm số: 17/HSPT ngày 23/7/2004 c a Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai phạt bị cáo 4 năm tù về các tội “Cố ý gây thương tích”, “Đưa hối lộ” và tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù năm 2008 nhưng ngày 17/3/2017 v bị cáo là Nguy n Thị T1 mới nộp tiền phạt bổ sung 3.000.000 đ ng và 100.000 đ ng án phí.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam t ngày 08/3/2017. Có m t tại phiên tòa.
* Ngư i ào ch a cho cáo: ng Phạm Ti n Q, lu t sư Công ty lu t TNHH u nh Như – Đoàn lu t sư tỉnh Bắc Ninh. Có m t.
* Ngư i hại: Anh Trần Phương T, sinh năm 1980; Trú tại: Nhà số 5,
đường V, qu n S, thành phố Đà N ng. Có m t.
NHẬN THẤY
Bị cáo Lâm Ngọc H bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Ngày 22/10/2015, Lâm Ngọc H ký h p đ ng lao động với Công ty trách nhiệm hữu hạn FT VINA (sau đây gọi tắt là Công ty FT VINA) do anh Trần Phương T làm giám đốc với m c lương 20.000.000 đ ng. Sau đó, giữa anh T và H có th a thu n miệng về việc H có trách nhiệm tìm các công nhân hàn tự do về làm cho công ty, ngoài tiền lương công ty FT VINA trả cho công nhân hàn theo th a thu n, thì H đư c hưởng tiền chêch lệch c a th hàn inox là 100.000 đ ng/1 ngày/1 người, th hàn ống thép là 200.000 đ ng/1 ngày/1 người, nhưng đ n khi công trình hoàn thành khoảng 80% trở lên H mới nh n đư c số tiền chêch lệch này. Trên cơ sở chấm công c a k toán công ty, hàng tháng H nh n lương c a các công nhân hàn t anh T về để chi trả cho các công nhân mà H đã tìm cho anh T. T tháng 11/2015 đ n tháng 1/2016, H đã nh n lương t anh T và chi trả cho các công nhân hàn đầy đ . Đ n ngày 11/3/2016, H nh n lương tháng 2/2016 c a 39 công nhân hàn và lương làm thêm t t 2016 c a 03 công nhân hàn với tổng số tiền 841.975.000 đ ng để chi trả cho các công nhân. Tuy nhiên, sau khi nh n tiền t anh T tại trụ sở văn phòng công ty ở khu công nghiệp Yên Phong, H không phát lương cho các công nhân mà nảy sinh ý định chi m đoạt, nên H đã cầm tiền, tắt máy điện thoại di động và b trốn. Đ n ngày 08/3/2017, khi H quay về quê tại phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình thì bị bắt theo lệnh truy nã.
Căn c đơn trình báo c a anh Trần Phương T, lời khai một số công nhân hàn chưa đư c H chi trả tiền và Bản K t lu n giám định số: 28/GĐ -PC54 ngày 28/4/2017 c a Phòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh đã k t lu n: Chữ viết, chữ ký đứng tên Lâm Ngọc H trên “Danh sách nhận lương tháng 02/2016” và “Bảng lương tết 2016” của công ty TNHH FT VINA tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2) so với chữ ký, chữ viết của Lâm Ngọc H trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ; M1 đến M7) do cùng một ngư i ký và vi t ra.
Đối với số tiền lương tháng 2/2016 c a 39 công nhân; số tiền làm thêm ngày t t c a 03 công nhân do H chi m đoạt, ngày 15/3/2016 anh T đã thanh toán toàn bộ số tiền này cho các công nhân.
Về trách nhiệm dân sự: Căn c vào th a thu n về số tiền chêch lệch đư c hưởng giữa H và anh T chưa thanh toán t tháng 11/2015 đ n tháng 2.2016, nên anh T chấp nh n đối tr cho H số tiền cụ thể: Tháng 11/2015 là 26.680.000 đ ng; Tháng 12/2015 là 68.940.000 đ ng; Tháng 01/2016 là 164.260.000 đ ng; Tháng 02/2016 là 136.825.000 đ ng = 396.705.000 đ ng. Tại cơ quan điều tra anh T yêu cầu H b i thường số tiền còn lại là 445.270.000 đ ng.
Tại bản Cáo trạng số: 43/CTr – VKS - P3 ngày 25 tháng 5 năm 2017 c a Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Lâm Ngọc H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chi m đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 140 Bộ lu t hình sự năm 1999 (khoản 4 điều 175 Bộ lu t hình sự năm 2015).
Tại phiên tòa công khai hôm nay, bị cáo Lâm Ngọc H t chối người bào chữa là lu t sư Phạm Ti n Q, bị cáo không nhờ người bào chữa mà tự mình s bào chữa tại phiên tòa. Bị cáo H khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu và th a nh n sau khi lấy đư c số tiền 841.975.000 đ ng t anh T để chi trả cho các công nhân, bị cáo đã không trả tiền cho 42 công nhân hàn mà cầm tiền b trốn vào các tỉnh miền Trung, trong quá trình trốn tránh đã ăn tiêu h t số tiền trên.
Anh Trần Phương T xác nh n những nội dung bị cáo H đã khai tại phiên tòa là đúng, anh T khai toàn bộ tiền chi trả cho công nhân trong đó có tiền lương c a H là tiền c a anh, số tiền 841.975.000 đ ng do anh trực ti p đưa cho H để H chi trả tiền lương tháng 2/2016 và tiền làm thêm t t năm 2016 cho 42 công nhân hàn. cơ quan điều tra, anh đã đối tr với H và có yêu cầu H phải b i thường 445.270.000 đ ng. Tại phiên tòa hôm nay, anh T không yêu cầu bị cáo H b i thường và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, m c độ nguy hiểm c a hành vi phạm tội, tình ti t tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự c a bị cáo đã đề nghị Hội đ ng xét xử tuyên xử bị cáo theo tội danh mà bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị:
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 140; điểm b, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ lu t hình sự, xử phạt bị cáo Lâm Ngọc H t 12 đ n 13 năm tù. Đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị chấp nh n việc anh T không yêu cầu bị cáo phải b i thường.
Bị cáo H không tranh lu n với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đ ng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại nhất trí với quan điểm c a đại diện Viện kiểm sát không có ý ki n tranh lu n.
Căn c vào các ch ng c và tài liệu đã đư c thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đ , toàn diện các ch ng c , ý ki n c a Kiểm sát viên, ý ki n c a bị cáo và c a những người tham gia tố tụng khác.
X T THẤY
Bị cáo Lâm Ngọc H đã có hành vi l i dụng sự tin tưởng c a anh Trần Phương T vào ngày 11/3/2016, H nh n t anh T lương tháng 2/2016 c a 39 công nhân hàn và tiền làm thêm t t năm 2016 c a 03 công nhân hàn với tổng số tiền 841.975.000 đ ng để chi trả cho các công nhân nhưng H không trả tiền cho các công nhân mà chi m đoạt b ng cách tắt điện thoại di động, b trốn và ăn tiêu h t số tiền trên. Lời khai nh n c a bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù h p với lời khai c a bị cáo tại cơ quan điều tra, phù h p với lời khai c a người bị hại, những người làm ch ng và k t lu n giám định. Vì v y, bị cáo đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chi m đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 140 Bộ lu t hình sự như truy tố c a Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh là có căn c pháp lu t.
Hành vi phạm tội c a bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản c a công dân đư c pháp lu t bảo vệ, làm thiệt hại tới kinh t c a người bị hại, gây mất lòng tin và ảnh hưởng tới tr t tự xã hội. Do v y, cần phải có m c hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đ để giáo giục riêng và phòng ng a chung.
Xét thấy, bị cáo H đư c hưởng tình ti t giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, số tiền bị cáo chi m đoạt c a người bị hại cũng không quá lớn và cũng cần cho bị cáo hưởng tình ti t đã khắc phục h u quả vì bị cáo đã đư c anh T đối tr và không yêu cầu b i thường. Tuy nhiên, chỉ vì hám l i mà bị cáo bất chấp chuẩn mực đạo đ c, l i dụng sự tin tưởng c a người bị hại để chi m đoạt tiền, bị cáo đã bị xét xử theo bản án hình sự phúc thẩm số: 17/HSPT ngày 23/7/2004 c a Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, chấp hành xong hình phạt 4 năm tù vào năm 2008 nhưng ngày 17/3/2017 mới nộp tiền phạt bổ sung 3.000.000 đ ng và 100.000 đ ng án phí. Như v y, bị cáo chưa đư c coi là đương nhiên xóa án nhưng không chịu tu dư ng r n luyện bản thân, ti p tục phạm tội nên phải chịu tình ti t tăng n ng là tái phạm. Xét thấy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly H kh i đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện.
Về trách nhiệm b i thường: Ngày 15/3/2016, anh T đã trả h t tiền lương tháng 2/2016 c a 39 công nhân; tiền làm thêm t t 2016 c a 03 công nhân do H chi m đoạt. Tại phiên tòa hôm nay, anh T không yêu cầu H phải b i thường số tiền còn lại sau khi đã đối tr là 445.270.000 đ ng. Xét yêu cầu c a anh T là tự nguyện, phù h p qui định c a pháp lu t nên cần chấp nh n.
* Về v t ch ng c a vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ c a H 01 chi c điện thoại di động Nokia cũ. Xét thấy, không có căn c xác định chi c điện thoại này bị cáo H dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Lâm Ngọc H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chi m đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 140; điểm b, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 42; Điều 33 Bộ lu t hình sự năm 1999 (khoản 4 Điều 175 Bộ lu t hình sự năm 2015); Điều 76; Điều 228 Bộ lu t tố tụng hình sự. Xử phạt Lâm Ngọc H 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính t ngày 08/3/2017. uy t định duy trì Lệnh tạm giam số: 69/2017/HSST – LTG ngày 30/5/2017 c a Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đối với bị cáo Lâm Ngọc H để đảm bảo thi hành án.
- Chấp nh n sự tự nguyện c a anh Trần Phương T về việc anh T không yêu cầu bị cáo Lâm Ngọc H cáo phải b i thường 445.270.000 đ ng.
- Trả lại bị cáo lâm Ngọc H 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen đã cũ có số Imei 355956/04/998667/6, k m theo 01 sim.
Chi c điện thoại trên theo biên bản giao nh n v t ch ng, tài sản số: 41/CTHA ngày 29/5/2017 c a Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Bị cáo Lâm Ngọc H phải chịu 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hại có m t có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - Phòng PV27, PC81 Công an tỉnh; - Bị cáo, người tham gia TT; - Lưu HS, VP. | T/M. H I ĐỒN X T XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Vũ Công Đồng |