vanban.org

Bản án 91/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng dịch vụ

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 28/09/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Quốc Ph với bị đơn ông Dƣơng Văn Th về việc tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng.

Buộc ông Dƣơng Văn Th phải thanh toán cho ông Phan Quốc Ph số tiền còn thiếu là 82.419.600 (tám mƣơi hai triệu bốn trăm mƣời chín nghìn sáu trăm) đồng. Kể từ ngày ông Phan Quốc Ph có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Dƣơng Quốc Th chậm thi hành số tiền trên thì hàng tháng ông Th còn phải trả cho ông … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng dịch vụ — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng giữa NĐ Phan Quốc Ph - BĐ Dương Quốc Thái"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Quốc Ph với bị đơn ông Dƣơng Văn Th về việc tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 91/2018/DS-ST
Ngày 28-9-2018
V/v tranh chấp hợp đồng thi công
xây dựng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Từ Anh Tuấn.

Bà Trần Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thƣơng – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 204/2018/TLST- DS ngày 26 tháng 6 năm 2018 về tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 115/2018/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 97/2018/QĐST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2018 giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Phan Quốc Ph, sinh năm 1976; địa chỉ thƣờng trú: 19/18 khu phố T, phƣờng T, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Dƣơng Văn Th, sinh năm 1976; địa chỉ: Số 18/1 khu phố T, phƣờng T, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 14 tháng 6 năm 2018, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn ông Phan Quốc Ph trình bày:

Ông với ông Th có mối quan hệ quen biết do cùng là thợ hồ. Trƣớc tết năm 2018, ông Th nhận công trình và rủ ông cùng làm nhƣng do thời điểm đó ông cũng nhiều việc nên từ chối. Sau khi ăn tết xong ông Th lại tiếp tục rủ ông cùng làm với ông Th, ông nhận lời. Ngày 07/3/2018, hai bên ký Hợp đồng hợp tác xây tô. Theo đó ông Th giao khoán cho ông khối lƣợng xây, tô hoàn thiện với giá là 160.000 đồng/m2, thời gian xây và tô là 22 ngày, xây, tô hoàn thiện xong 1 công trình (nhà liên kế) thì ông Th sẽ thanh toán tiền phần đã hoàn thiện. Số tiền thanh toán tính theo khối lƣợng thực tế xây, tô. Nếu quá thời hạn 22 ngày mà công trình chƣa đƣợc xây, tô xong thì sẽ bị phạt: chậm 1 ngày trừ 5.000.000 đồng. Sau 3 ngày kể từ ngày hoàn thiện việc xây, tô thì ông Th sẽ thanh toán toàn bộ số tiền còn lại.

Trong hợp đồng không thỏa thuận về việc ứng trƣớc tiền công nhƣng trƣớc khi ký hợp đồng hai bên có thỏa thuận miệng với nhau là trong vòng 2 tuần kể từ ngày ký hợp đồng thì bên ông Th phải cho ông ứng tiền đối với khối lƣợng m2 xây dựng đã hoàn thiện để phát lƣơng cho anh, em thợ xây. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Th không làm theo thỏa thuận nên ông ngƣng không cho thợ xây, tô trong thời hạn 4 ngày, thấy vậy ông Th cho ứng đƣợc 17.000.000 đồng, ông lại cho thợ tiếp tục xây, tô. Khi xây, tô xong công trình ông Th giao khoán, ông Th không thanh toán tiền công xây, tô cho ông mà chỉ cho ứng 10.000.000 đồng. Sau đó ông Th yêu cầu ông tô thêm vài ngày rồi ông Th sẽ thanh toán tiền luôn. Ông yêu cầu ông Th thanh toán hết tiền để phát lƣơng cho thợ rồi sẽ tiếp tục tô nhƣng ông Th chỉ hẹn sẽ thanh toán mà không thực hiện nên ông ngƣng không tiếp tục hợp đồng.

Đến ngày 06/6/2018, hai bên thống nhất lập bảng chi tiết công việc đã thực hiện đƣợc cụ thể:

+ Tổng số m2 tƣờng 20cm đã xây dựng đƣợc là 828.72m2x 80.000 đồng= 66.297.600 đồng

+ Tổng số m2 tƣờng 10cm đã xây dựng đƣợc là 298.68 x 50.000 đồng = 14.934.000 đồng

+ Tiền hỗ trợ bắt giàn giáo ở mặt sau và tô ở mặt sau 8.688.000 đồng + tiền xây trên mái 06 căn nhà 10.500.000 đồng + tiền xây đổ đà lăng tô cửa chính 9.000.000 đồng, tổng cộng là 28.188.000 đồng.

Tổng cộng số tiền công ông đã làm là 109.419.600 đồng, số tiền công ông Th đã ứng là 27.000.000 đồng. Vậy số tiền ông Th chƣa thanh toán là 82.419.600 đồng.

Trƣớc khi nộp đơn tại Tòa án ông đã liên lạc với ông Th nhiều lần yêu cầu ông Th thanh toán cho ông số tiền còn lại để thanh toán tiền lƣơng cho thợ nhƣng ông Th không thanh toán. Vì vậy, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Th phải thanh toán cho ông số tiền công còn thiếu là 82.419.600 đồng (tám mƣơi hai triệu bốn trăm mƣời chín nghìn sáu trăm đồng) và không yêu cầu ông Th tính lãi đối với số tiền này.

- Đối với bị đơn: Ông Dƣơng Văn Th đã đƣợc tòa án triệu tập hợp lệ để cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 05/7/2018 và 03/8/2018, tham gia phiên tòa vào các ngày 04/9/2018 và 28/8/2018 nhƣng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, bị đơn đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt không có lý do, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc công bố tại phiên tòa, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An nhận định:

Về tố tụng: Ông Phan Quốc Ph có đơn yêu cầu giải quyết nghĩa vụ thanh toán tiền trong thực hiện hợp đồng thi công xây dựng giữa ông với ông Dƣơng Văn Th; đi ̣a chỉ: 18/1 khu phố T, phƣờng T, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Vì vậy, đây là vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Nguyên đơn ông Phan Quốc Ph có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 05/7/2018. Bị đơn ông Dƣơng Văn Th đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào các ngày 04/9/2018 và 28/9/2018 nhƣng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt các đƣơng sự.

Xét, ngày 07/3/2018, ông Phan Quốc Ph và ông Dƣơng Văn Th ký “Hợp đồng hợp tác xây tô” thỏa thuận về thực hiện việc xây, tô công trình là khu nhà ở Đông Hòa, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng trong thời hạn 22 ngày và đơn giá xây, tô hoàn thiện 1m2 là 160.000 đồng. Giá trị thanh toán đƣợc tính theo khối lƣợng thực tế khi bàn giao, nghiệm thu. Nếu chậm hoàn thành tiến độ nhƣ trong hợp đồng thì mỗi ngày chậm sẽ bị phạt 5.000.000 đồng. Khi hoàn thiện công trình thì sẽ đƣợc thanh toán ngay sau 3 ngày. Ngoài ra hai bên còn thỏa thuận bằng miệng về việc ứng tiền công thợ trong quá trình thực hiện hợp đồng. Việc ký kết “Hợp đồng hợp tác xây tô” thể hiện ý chí tự nguyện giữa ông Ph và ông Th trong giao kết hợp đồng. Trong hợp đồng “Hợp tác xây tô” hai bên thỏa thuận “Xây tô hoàn thiện 22 ngày là có tiền ngay sau 03 ngày”, đến ngày 06/6/2018, ông Ph, ông Th thống nhất xác nhận khối lƣợng công việc ông Ph đã thực hiện và số tiền ông Th còn phải thanh toán cho ông Ph là 82.419.000 đồng bằng “Bảng chi tiết công việc”, nhƣng đến ngày ông Ph nộp đơn khởi kiện tại Tòa án, ông Th vẫn không thanh toán số tiền này cho ông Ph. Nhƣ vậy, ông Th đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền cho ông Ph theo nhƣ thỏa thuận trong hợp đồng. Vì thế, yêu cầu của ông Ph về việc buộc ông Th thanh toán toàn bộ số tiền 82.419.600 đồng là có cơ sở chấp nhận. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Ph về việc không yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Dƣơng Văn Th phải chịu theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; các Điều 275, 280, 351, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Quốc Ph với bị đơn ông Dƣơng Văn Th về việc tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng.

Buộc ông Dƣơng Văn Th phải thanh toán cho ông Phan Quốc Ph số tiền còn thiếu là 82.419.600 (tám mƣơi hai triệu bốn trăm mƣời chín nghìn sáu trăm) đồng.

Kể từ ngày ông Phan Quốc Ph có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Dƣơng Quốc Th chậm thi hành số tiền trên thì hàng tháng ông Th còn phải trả cho ông Ph số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Dƣơng Quốc Th phải chịu số tiền 4.120.950 (bốn triệu một trăm hai mƣơi nghìn chín trăm năm mƣơi) đồng.

Trả lại cho ông Phan Quốc Ph toàn bộ số tiền tạm ứng án phí 2.061.000 (hai triệu không trăm sáu mƣơi mốt nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0019653 ngày 21 tháng 6 năm 2018 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.

Cỡ chữ